vanban.org

Bản án 54/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Lê Văn T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 152 ngày 03/11/2010 do Uỷ ban nhân dân xã A (huyện C, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.

* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận các cháu Lê Thị Cẩm T sinh ngày 11/6/2004 và Lê Minh K sinh ngày 26/11/2009 là con chung của chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Lê Văn T; Giao cháu Lê Minh K cho chị Nguyễn Thị Thùy L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi (hiện cháu M… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thùy Linh và Lê Văn Tâm"
  • Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Lê Văn T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 152 ngày 03/11/2010 do Uỷ ban nhân dân xã A (huyện C, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/5/2023.
Về việc: “T/c về Ly hôn; Nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Hữu Trí;

2. Ông Trương Thành Tuấn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Cù Thị Kim Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 446/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp về Ly hôn; Nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L (Bé Nhỏ), sinh năm 1987;

Nơi cư trú: Tổ 29, ấp BA, xã H, huyện C, An Giang.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: Tổ 29, ấp BA, xã H, huyện C, An Giang.

(Các đương sự ều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy L và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Chị Nguyễn Thị Thùy L sống chung với anh Lê Văn T từ năm 2005, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã A (giấy đăng ký kết hôn số 152 ngày 03/11/2010). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong tình cảm vợ chồng, thường xuyên hay cãi nhau và không còn tôn trọng nhau, mặc dù đã rất nhiều lần hàn gắn và tạo cơ hội cho anh T sửa đổi nhưng không kết quả và đã sống ly thân đến nay. Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Lê Thị Cẩm T sinh ngày 11/6/2004 và Lê Minh K sinh ngày 26/11/2009, hiện tại các con đang sống chung với chị Thùy L.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Thùy L yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn T; Về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Minh K, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con (riêng cháu Cẩm Tiên đã trưởng thành); Về tài sản thì tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Về phía bị đơn anh Lê Văn T thì: Toà án đã nhiều lần gửi Thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh Lê Văn T đều vắng mặt không lý do. Qua chứng cứ thu thập được thì anh Lê Văn T có nơi cư trú tại tổ 29, ấp BA, xã H, huyện C, An Giang; Hiện tại anh Lê Văn T thường xuyên không có mặt tại địa phương nhưng không cung cấp nơi làm việc hoặc địa chỉ mới nên Tòa án đã thông qua Thừa phát lại thực hiện các thủ tục tố tụng để mở phiên tòa xét xử theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh Lê Minh T có mặt và không có ý kiến gì về phần thủ tục tố tụng, đồng thời thống nhất ly hôn và đồng ý giao con cho chị Thùy L nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản không tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về xin ly hôn và nuôi con chung, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Văn T có mặt và không có ý kiến gì về thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy L đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với anh Lê Văn T từ năm 2005 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; Nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị Thùy L xin được ly hôn với anh T và tại phiên tòa anh T đồng ý. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan T lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Thùy L và anh T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, Tòa án nhiều lần mời anh Lê Văn T để hòa giải cho anh, chị đoàn tụ nhưng anh T không còn quan T đến cuộc sống vợ chồng và thống nhất ly hôn. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân gia đình nên công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Lê Văn T.

Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Thùy L thừa nhận 02 cháu Lê Thị Cẩm T sinh ngày 11/6/2004 và Lê Minh K sinh ngày 26/11/2009 là con chung của chị và anh Lê Văn T, giấy khai sinh của các cháu cũng đã thể hiện điều này, do đó cần công nhận cháu Lê Thị Cẩm T và Lê Minh K là con chung của chị Thùy L và anh T, đồng thời phía chị Nguyễn Thị Thùy L có yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, từ khi anh và chị không còn sống chung nữa thì cháu Lê Minh K đã sống chung với chị Thùy L đến nay và nguyện vọng của cháu muốn sống chung với mẹ, đồng thời phía anh T cũng không tranh chấp; Do đó, để ổn định T lý và cuộc sống cho cháu nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy L là được tiếp tục nuôi cháu Lê Minh K (riêng cháu Lê Thị Cẩm T đã trưởng thành). Ngoài ra, phía chị Nguyễn Thị Thùy L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.

Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Nguyễn Thị Thùy L có yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Xử:

* Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Lê Văn T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 152 ngày 03/11/2010 do Uỷ ban nhân dân xã A (huyện C, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.

* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận các cháu Lê Thị Cẩm T sinh ngày 11/6/2004 và Lê Minh K sinh ngày 26/11/2009 là con chung của chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Lê Văn T;

+ Giao cháu Lê Minh K cho chị Nguyễn Thị Thùy L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi (hiện cháu Minh Khanh đang sống chung với chị Thùy L); Anh Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị Thùy L; riêng cháu Lê Thị Cẩm T đã trưởng thành.

+ Chị Nguyễn Thị Thùy L cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

* Về quan hệ tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận.

* Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0003816 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang; Được khấu trừ nên chị Nguyễn Thị Thùy L đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ