- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ka Liêng - K' Xan: Ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ka L đối với ông K’ X về việc tranh chấp “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 8 - 2023. V/v tranh chấp: Ly hôn giữa bà Ka L và ông K’ X. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Sáu
2. Ông Phạm Đức Minh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 59/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự.
* Nguyên đơn: Bà Ka L, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Thôn 1, xã Y, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Ông K’ X, sinh năm: 1998. Địa chỉ: Thôn 1, xã Y, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng: Số 357 thôn Phú An, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 3 năm 2023 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Ka L trình bày:
* Về hôn nhân:
Bà Ka L và ông K’ X tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 22/7/2020. Hôn nhân được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới.
Bà Ka L cho rằng: Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, ông K’ X thường xuyên nghiện ngập, gây áp lực cho vợ và đe dọa bạo lực gia đình. Bà Ka L đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Ka L yêu cầu được ly hôn với ông K’ X.
Còn ông K’ X thì cho rằng trong cuộc sống vợ chồng chỉ xảy ra mâu thuẫn nhỏ, do ông nghiện ma túy nên bà Ka L không còn tình cảm với ông nên ông K’ X không đồng ý ly hôn với bà Ka L.
* Về con chung: Bà Ka L và ông K’ X trình bày vợ chồng chung sống có 03 con chung là cháu Ka C1, sinh ngày 04/9/2014; Ka C2, sinh ngày 21/5/2016 và cháu Ka C3, sinh ngày 06/7/2018. Hiện nay các con chung đang ở với bà Ka L. Khi ly hôn bà Ka L yêu cầu được nhận nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên; Bà Ka L không yêu cầu ông K’ X phải cấp dưỡng nuôi con chung. Còn ông K’ X thì yêu cầu được nhận nuôi dưỡng cháu Ka C2 cho đến khi đủ tuổi thành niên; ông K’ X không yêu cầu bà ka L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
* Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ka L và ông K’ X đều trình bày vợ chồng không có không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn bà Ka L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ka L, xử cho bà Ka L được ly hôn với ông K’ X;
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Ka L về việc nhận nuôi dưỡng 03 con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên; Ông K’ X không phải cấp dưỡng nuôi con chung;
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ka L và ông K’ X trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
- Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Ka L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng giải quyết về việc tranh chấp “Ly hôn” với ông K’ X. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Ka L và bị đơn ông K’ X vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka L và Bình tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 22/7/2020. Hôn nhân được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Ka L và ông K’ X là hoàn toàn hợp pháp.
Bà Ka L cho rằng quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, ông K’ X thường xuyên nghiện ngập, gây áp lực cho vợ và đe dọa bạo lực gia đình. Còn ông K’ X thì cho rằng trong cuộc sống vợ chồng chỉ xảy ra mâu thuẫn nhỏ, bà Ka L và ông K’ X đều thừa nhận ông K’ X nghiện ma túy và hiện nay ông K’ X đang cai nghiện ma túy tập trung tại cơ sở cai nghiện nên cuộc sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ka L, xử cho bà Ka L được ly hôn với ông K’ X.
Về con chung: Bà Ka L trình bày vợ chồng chung sống có 03 người con chung là cháu Ka C1, sinh ngày 04/9/2014; Ka C2, sinh ngày 21/5/2016 và cháu Ka C3, sinh ngày 06/7/2018. Khi ly hôn, bà Ka L yêu cầu được nhận nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên. Còn ông K’ X thì yêu cầu được nhận nuôi dưỡng cháu Ka C2 cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Xét thấy, hiện nay các con chung đang còn nhỏ, quá trình giải quyết vụ án bà Ka L cho rằng mình có đủ điều kiện về kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong khi ông K’ X cũng có nguyện vọng được nhận nuôi dưỡng 01 con chung nhưng ông K’ X lại đang cai nghiện ma túy tập trung tại cơ sở cai nghiện. Cháu Ka C2 có nguyện vọng muốn được ở với bà Ka L. Vì vậy, để không ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại cũng như tâm lý của các con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của bà Ka L về việc nhận nuôi con chung; giao 03 con chung cho bà Ka L có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên.
Về cấp dưỡng: Bà Ka L không yêu cầu nên ông K’ X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ka L và ông K’ X đều trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí: Bà Ka L tự nguyện chịu 300.000đ tiền án phí phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ka L đối với ông K’ X về việc tranh chấp “Ly hôn”.
Xử cho bà Ka L được ly hôn với ông K’ X.
2/ Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Ka C1, sinh ngày 04/9/2014; Ka C2, sinh ngày 21/5/2016 và cháu Ka C3, sinh ngày 06/7/2018 cho bà Ka L có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Ông K’ X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3/ Về án phí: Bà Ka L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Ka L đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012719 ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Bà Ka L đã nộp đủ tiền án phí.
4/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/8/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - UBND xã Y, huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Đức Trường |