- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa Nguyễn Thị Mộng L và Nguyễn Hoài P"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Mộng L được ly hôn với anh Nguyễn Hoài P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27/6/2023 V/v tranh chấp "Ly hôn, nuôi con" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Hoa
2. Ông Nguyễn Tấn Để
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh K: Bà Lai Thị Ngọc Mãi – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 25/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mộng L, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Ấp 8II, xã T, huyện A, tỉnh K
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoài P, sinh năm 1993.
Địa Chỉ: Ấp 8II, xã T, huyện A, tỉnh K.
(Chị L có mặt, anh P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mộng L trình bày:
Do quen biết chị và anh P cưới nhau năm 2017, đăng ký kết hôn ngày 20/9/2017 tại UBND xã T. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, bất hòa, thường xuyên cự cãi, sống không hạnh phúc. Do đó anh, chị sống ly thân đã gần 02 năm. Hiện nay mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm không còn, không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn.
Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Hoài Khả H, sinh ngày 24/7/2018, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng.
Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Hoài P không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng L, mặc dù Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
- Chị L: Vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn; về con chung: chị xác định có 01 con chung, khi ly hôn yêu cầu tiếp tục được nuôi con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh P: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần.
- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn vắng mặt không đảm bảo theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Mộng L được ly hôn với anh Nguyễn Hoài P. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Nguyễn Hoài Khả H, sinh ngày 24/7/2018 cho chị L nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết do chị L không có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L xác định không có, anh P không có ý kiến hay yêu cầu gì về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Hoài P là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh đã vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh P trong vụ án này.
Về quan hệ hôn nhân:
- Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị Mộng L và anh Nguyễn Hoài P là hợp pháp, được UBND xã T, huyện A, tỉnh K cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Hôn nhân của anh chị được xây dựng trên cơ sở quen biết, tìm hiểu nhau trước khi đi đến hôn nhân. Anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.
Theo chị L nguyên nhân là do không có tiếng nói chung, bất hòa, thường xuyên cự cải, sống không hạnh phúc. Do đó anh, chị sống ly thân đã gần 02 năm. Hiện nay mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm không còn, không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn.
Anh P không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như nguyên nhân mâu thuẫn mà phía chị L đưa ra. Mặc dù Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng nhiều lần nhưng anh P bỏ mặc không có văn bản thể hiện ý kiến, nguyện vọng của mình. Đồng thời, anh chị đã có thời gian ly thân khá lâu nhưng vẫn không thể hàn gắn đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị L và anh P là không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị L xác định giữa chị và anh P có 01 con chung là Nguyễn Hoài Khả H, sinh ngày 24/7/2018. Hiện do chị L nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị L và anh P ly thân đến nay do chị L nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Anh P không có ý kiến gì về việc nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo sự phát triển và quyền lợi của con chung, Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giao con chung là Nguyễn Hoài Khả H, sinh ngày 24/7/2018 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;
- Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mộng L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Các Điều 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Các Điều 24, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Mộng L được ly hôn với anh Nguyễn Hoài P.
2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Nguyễn Hoài Khả H, sinh ngày 24/7/2018 cho chị Nguyễn Thị Mộng L nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mộng L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị L đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001097 ngày 13/02/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K. Xem như chị L đã thi hành xong phần án phí.
5. Chị Nguyễn Thị Mộng L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Hoài P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện A; - Chi cục THADS huyện A; - UBND nơi ĐKKH; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN KIM NGỌC GIÀU |