- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Điều 5, 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀ NG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54A/2023/DS-ST Ngày: 19/6/2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. |
NHÂN DANH
NƢỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xé t xử sơ thẩm gồm co:́
Thẩm phá n – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Sa Rên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Thạch Thanh Long.
2/. Ông Nguyễn Văn Điền.
Thư ký phiên tòa : Ông Thạch Ươn- Thư ký Tòa án nhân dân huyê ̣n Càng
Long.
Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Càng Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số : 349/2023/TLST-DS, ngày 25 tháng 10 năm 2022. về việc “Tranh chấp hơp đồng mua bán” theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số : 282/2023/QĐXXST-DS, ngày 31 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoản phiên tòa số 330/2023/QĐST-DS ngày 28/4/2023 giữa:
Nguyên đơn: ông Mạch Long G, sinh năm 1985, địa chỉ: số 333, đường Đ, khóm 8, phường X, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Mạch Long G: Bà Mạch Thị Mỹ H, sinh năm 1982. địa chỉ số 333, đường Đ, khóm 8, phường X, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. (Có mặt)
Bị đơn:
1/Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp R, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn Đ: Bà Trần Thị T, sinh năm 1985; Cùng địa chỉ: ấp R, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)
2/Bà Trần Thị T, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp R, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Mạch Thị Mỹ H, sinh năm 1982. địa chỉ: số 333, đường Đ, khóm 8, phường 6, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Mạch Thị Mỹ H trình bày: Trước đây vợ chồng ông Đ, bà L có đến cửa hàng thức ăn gia súc, thủy sản và thuốc thú y Mỹ A để mua thức ăn chăn nuôi. Tính đến ngày 27/3/2021, ông Đ, bà L còn nợ tiền thức ăn chăn nuôi với số tiền 203.425.000 đồng, ông Đ có làm tờ cam kết nhận nợ và hứa 05 tháng sẽ trả đủ số tiền thức ăn còn nợ. Đến ngày 13/10/2021, ông Đ, bà L trả được số tiền 48.000.000 đồng còn nợ lại số tiền 155.425.000 đồng đến nay chưa có thanh toán.
Nay, bà Hạnh đại diện theo ủy quyền của ông Mạch Long G yêu cầu ông Huỳnh Văn Đ, bà Trần Thị Thùy L trả lại tiền mua thức ăn gia súc còn nợ là 155.425.000 đồng và yêu cầu ông Đ, bà L trả tiền lãi theo mức lãi suất 0.83%/tháng, thời gian tính lãi kể từ ngày 14/10/2021 đến ngày 14/5/2023 là 19 tháng với số tiền là 24.510.000 đồng.
Tại các lời khai quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Trần Thị Thùy L và bà L đại diện theo ủy quyền của ông Đ trình bày: Chúng tôi thừa nhận trước đây có mua thức ăn chăn nuôi của cửa hàng thức ăn gia súc Mỹ A với tổng số tiền còn nợ là 203.425.000 đồng, chúng tôi có ký vào tờ cam kết trả nợ. Sau đó, chúng tôi đã trả được số tiền 48.000.000 đồng còn lại số tiền 155.425.000 đồng đến nay chưa trả.
Nay, bị đơn đồng ý trả số tiền nợ gốc 155.425.000 đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần. Đối với tiền lãi đề nghị nguyên đơn không tính tiền lãi.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu và các đương sự không bổ sung, cung cấp chứng cứ gì mới tại phiên tòa.
Quan điểm của Kiểm sát viên: Kết luận trình tự thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều đúng qui định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ cho các đương sự nhận và hôm nay tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ đúng trình tự thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, BLTTDS. Phía bị đơn chưa thực hiện nghiêm quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS cụ thể bị đơn không có mặt đầy đủ trong các phiên hòa giải, đối chất do tòa án triệu tập mặc dù được tống đạt hợp lệ.
Về nội dung vụ án: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 26, 35, 147, 165, 227, 228, 244 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mạch Long G
Buộc ông Huỳnh Văn Đ, bà Trần Thị Thùy L trả cho ông Mạch Long G tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ là 155.425.000 đồng và tiền lãi 24.510.000 đồng.
Kể từ khi bán án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: ông Đ, bà L phải chịu 8.996.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứ u các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án đượ c thẩm tra ta ̣i phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: ông Mạch Long G yêu cầu ông Huỳnh Văn Đ, bà Trần Thị Thùy L trả tiền mua thức ăn gia cầm còn nợ là 155.425.000 đồng và yêu cầu trả tiền lãi với số tiền 24.510.000 đồng. Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Về nội dung tranh chấp: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như qua lời trình bày của các bên đương sự thấy rằng: Sự việc ông Đ, bà L có hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi gia cầm và đến nay còn nợ ông Mạch Long G số tiền 155.425.000 đồng là có thật thể hiện qua giấy cam kết nhận nợ ngày 27/3/2021. Tại bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, bà L, ông Đ (bà L đại diện theo ủy quyền của ông Đ) thừa nhận còn thiếu cửa hàng thức ăn chăn nuôi gia súc Mỹ A số tiền 203.425.000 đồng do ông Mạch Long G đại diện hộ kinh doanh. Đến ngày 13/10/2021, trả được số tiền 48.000.000 đồng, còn thiếu lại số tiền 155.425.000 đồng. Đây là sự việc có thật, được hai bên đương sự thừa nhận theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh.
Việc ông Đ, bà L còn thiếu tiền mua thức ăn chăn nuôi của ông Mạch Long G nên bà L, ông Đ phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc 155.425.000 đồng.
Về tiền lãi: Xét thấy, tại giấy cam kết nhận nợ ngày 27/3/2021, ông Đ thừa nhận có thiếu số tiền 203.425.000 đồng và giấy cam kết nhận nợ có thể hiện nếu không thanh toán tiền nợ gốc thì sẽ tính theo lãi suất cho vay của Ngân hàng nhà nước, đến ngày 13/10/2021, ông Đ trả được số tiền 48.000.000 đồng, còn thiếu lại số tiền 155.425.000 đồng đến nay chưa trả. Cho nên tại phiên tòa hôm nay, bà H đại diện theo ủy quyền của ông G yêu cầu ông Đ, bà L trả tiền lãi theo lãi suất 0,83 %/tháng và tính lãi kể từ ngày 14/10/2021 cho đến ngày 14/5/2023 là 19 tháng với số tiền là 24.510.000 đồng, vì vậy, ông G yêu cầu tính tiền lãi là có cơ sở chấp nhận. Cho nên bà L, ông Đ có nghĩa vụ trả tiền gốc 155.425.000.000 đồng và trả tiền lãi 24.510.000 đồng cho ông Mạch Long G.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L, ông Đ phải có nghĩa vụ chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 5, 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 428, 429, 430, 431, 432, 440, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Mạch Long G.
Buộc bà Trần Thị Thùy L, ông Huỳnh Văn Đ trả cho ông Mạch Long G số tiền nợ gốc 155.425.000 đồng và tiền lãi 24.510.000 đồng.Tổng cộng là 179.935.000 đồng (một trăm bảy mươi chín triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn đồng)
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn Đ, bà Trần Thị Thùy L phải chịu án phí 8.996.700 đông.
Ông Mạch Long G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Mạch Long G 4.175.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0012956 ngày 18/10/2020 do Chi cục thi hành án dân sự huyện C thu.
2. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh. -VKSND huyện, tỉnh. -CCTHADS huyện. -Các đương sự. -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Huỳnh Sa Rên |