vanban.org

Bản án 54/2022/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng đối với Công ty TNHH Trịnh Văn Hiển.

Buộc Công ty TNHH Trịnh Văn H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền 1.282.995.873 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi hai triệu chín trăm chín mươi lăm ngàn tám trăm bảy mươi ba đồng). Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng đối với Công ty TNHH Trịnh Văn Hiển.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2022/KDTM-ST
Ngày: 15/8/2022
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

****

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Đặng Văn Ẩn.

2- Ông Trần Hữu Ngôn.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân- Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền -Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 22/2021/TLST-KDTM ngày 31 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2022/QĐXXST-KDTM ngày 17 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 215/2022/QĐST-KDTM ngày 15 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

Địa chỉ trụ sở chính: 89 Đường L, phường L, quận Đ, Thành phố H.

Đai diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung T và ông Nguyễn Viết T (Văn bản ủy quyền số 964/2022/UQ-PGĐ ngày 20/02/2022).

Bị đơn: Công ty TNHH Trịnh Văn H.

Địa chỉ trụ sở chính: B6/18A Đường Liên ấp 1-2, ấp 2A xã V, huyện B, Thành phố H.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Xóm 8, xã X, huyện Y, tỉnh N. Chức vụ: Giám đốc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Xóm 8, xã X, huyện, tỉnh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V có đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Viết T trình bày:

Công ty TNHH Trịnh Văn H đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng cho vay hạn mức số: MBD/H11/19/0036/HDTD ngày 31 tháng 01 năm 2019 giữa Ngân hàng V và Công ty TNHH Trịnh Văn H với các nội dung tóm tắt như sau:

Khế ước nhận nợ số: MBD/H11/19/0036/HDTD-01 ngày 31/01/2019. Số tiền vay là 800.000.000 đồng; thời hạn vay là 23 tháng 20 ngày từ ngày 31/01/2019 đến ngày 20/01/2021; mục đích vay để bổ sung vốn cho hoạt động kinh doanh; sản xuất, buôn bán xe ba gác và linh kiện; lãi suất 25,1%/năm, cố định trong vòng 06 tháng, sau đó sẽ điều chỉnh định kỳ 06 tháng/ 01 lần. Khoản vay nêu trên được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Trịnh Văn H theo Hợp đồng bảo lãnh số MBD/H11/19/0036/HDBL.01 ngày 31 tháng 01 năm 2019.

Trong quá trình sử dụng vốn vay Công ty TNHH Trịnh Văn H đã thanh toán cho Ngân hàng V tổng số tiền là: 340.463.135 đồng, trong đó tiền gốc đã thanh toán được là 228.482.130 đồng và tiền lãi là 111.981.005 đồng.

Kể từ thời điểm quá hạn cho đến nay, Công ty TNHH Trịnh Văn H đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V. Ngân hàng V đã nhiều lần liên hệ và làm việc với Công ty TNHH Trịnh Văn H và người bảo lãnh để yêu cầu hoàn trả nợ vay nhưng Công ty TNHH Trịnh Văn H và người bảo lãnh cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Do đó, Ngân hàng V đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh buộc Công ty TNHH Trịnh Văn H phải trả ngay một lần cho Ngân hàng V nợ gốc là 571.517.870 đồng và nợ lãi. Ngoài ra, Công ty TNHH Trịnh Văn H vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng V.

Trường hợp Công ty TNHH Trịnh Văn H không thanh toán theo yêu cầu nêu trên thì ông Trịnh Văn H là bên bảo lãnh có trách nhiệm thanh toán toàn bộ các khoản vay nêu trên theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký kết.

Bị đơn Công ty TNHH Trịnh Văn H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông H.

Tại phiên tòa:

Ông Nguyễn Viết T đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Trịnh Văn H trả cho Ngân hàng V tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 15/08/2022 là 1.282.995.873 đồng, trong đó nợ gốc là 571.517.870 đồng và nợ lãi khoản vay là 711.478.003 đồng. Ngoài ra, Công ty TNHH Trịnh Văn H vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng V. Trường hợp Công ty TNHH Trịnh Văn H không thanh toán theo yêu cầu nêu trên thì ông Trịnh Văn H là bên bảo lãnh có trách nhiệm thanh toán toàn bộ các khoản vay nêu trên cho Ngân hàng V theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký kết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: Công ty TNHH Trịnh Văn H chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng Thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Trịnh Văn H thanh toán khoản nợ đã vay cùng lãi suất theo Hợp đồng cho vay hạn mức số: MBD/H11/19/0036/HDTD ngày 31 tháng 01 năm 2019. Bị đơn có trụ sở chính tại B6/18A Đường Liên ấp 1-2, ấp 2A xã V, huyện B, Thành phố H. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện B, Thành phố H.

[2] Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Ngân hàng Thương mại cổ phần V yêu cầu bị đơn Công ty TNHH Trịnh Văn H phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán ngay một lần toàn bộ nợ gốc, lãi tạm tính đến ngày 15/8/2022 là 1.282.995.873 đồng (Trong đó nợ gốc khoản vay là 571.517.870 đồng và nợ lãi khoản vay 711.478.003 đồng); yêu cầu Công ty TNHH Trịnh Văn H vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật nhưng đều vắng mặt không có lý do. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tự tước bỏ quyền phản đối yêu cầu của nguyên đơn đối với mình, tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết.

Xét, Hợp đồng cho vay hạn mức số: MBD/H11/19/0036/HDTD ngày 31/01/2019 được ký kết giữa VP Bank và Công ty TNHH Trịnh Văn H theo Khế ước nhận nợ số: MBD/H11/19/0036/HDTD-01 ngày 31/01/2019 và Hợp đồng bảo lãnh số MBD/H11/19/0036/HDBL.01 ngày 31/01/2019 được ký kết giữa VP Bank và ông Trịnh Văn H trên cơ sở tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, các thỏa thuận trong hợp đồng có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực, buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Thực hiện hợp đồng, VP Bank đã giải ngân và Công ty TNHH Trịnh Văn H đã nhận đủ số tiền vay theo đúng Hợp đồng đã ký kết.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn chỉ thanh toán cho Ngân hàng V tổng số tiền là 340.463.135 đồng, trong đó tiền gốc đã thanh toán được là 228.482.130 đồng và tiền lãi là 111.981.005 đồng.

Kể từ thời điểm quá hạn cho đến nay, Công ty TNHH Trịnh Văn H đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho VP Bank.

Căn cứ Bảng tổng hợp dư nợ do Ngân hàng V cung cấp, tính đến ngày 15/8/2022 Công ty TNHH Trịnh Văn H chưa thanh toán cho VP Bank nợ gốc 571.517.870 đồng và nợ lãi là 711.478.003 đồng, tổng cộng là 1.282.995.873 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V buộc Công ty TNHH Trịnh Văn H phải thanh toán cho Ngân hàng V số tiền 1.282.995.873 đồng, yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả lãi suất phát sinh trong quá trình trả nợ được tính tiếp theo từ ngày 16/8/2022 cho đến khi bị đơn trả dứt nợ là có cơ sở và phù hợp với Hợp đồng cho vay hạn mức số: MBD/H11/19/0036/HDTD ngày 31 tháng 01 năm 2019, Khế ước nhận nợ số: MBD/H11/19/0036/HDTD-01 ngày 31/01/2019 mà các bên đã ký kết, phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên chấp nhận.

Căn cứ Hợp đồng bảo lãnh số MBD/H11/19/0036/HDBL.01 ngày 31 tháng 01 năm 2019 được ký kết giữa Ngân hàng V và ông Trịnh Văn H có cơ sở xác định khoản vay nêu trên được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang của ông Trịnh Văn H. Do đó, trường hợp Công ty TNHH Trịnh Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi nêu trên cho Ngân hàng V thì ông Trịnh Văn H phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Trịnh Văn H, cùng chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản. Số tiền chênh lệch (nếu có) được trả lại cho ông Trịnh Văn H là phù hợp với Điều 335, khoản 2 Điều 336 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 335, Điều 336, Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng đối với Công ty TNHH Trịnh Văn Hiển.

Buộc Công ty TNHH Trịnh Văn H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền 1.282.995.873 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi hai triệu chín trăm chín mươi lăm ngàn tám trăm bảy mươi ba đồng).

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH Trịnh Văn H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số: MBD/H11/19/0036/HDTD ngày 31/01/2019, Khế ước nhận nợ số: MBD/H11/19/0036/HDTD-01 ngày 31/01/2019 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V và Công ty TNHH Trịnh Văn H cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Trường hợp trong Hợp đồng cho vay hạn mức số: MBD/H11/19/0036/HDTD ngày 31/01/2019, Khế ước nhận nợ số: MBD/H11/19/0036/HDTD-01 ngày 31/01/2019 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V và Công ty TNHH Trịnh Văn H có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

3. Trường hợp Công ty TNHH Trịnh Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi nêu trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần V thì ông Trịnh Văn H phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Trịnh Văn H, cùng chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản. Số tiền chênh lệch (nếu có) được trả lại cho ông Trịnh Văn H.

3. Về án phí: Công ty TNHH Trịnh Văn H chịu 50.489.876 đồng (Năm mươi triệu bốn trăm tám mươi chín ngàn tám trăm bảy mươi sáu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V 19.543.216 đồng (Mười chín triệu năm trăm bốn mươi ba ngàn hai trăm mười sáu đồng) đã tạm nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0081208 ngày 25 tháng 3 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014).

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ