vanban.org

Bản án 54/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 30/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2022/HSST
Ngày: 30/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Th m phán - Ch t a phi n t a: Ông Nguyễn Bảy Nhuận

- Hội th m nhân dân:

Bà Phan Thị Hồng

Ông Đinh Văn Liêm

- Thư ký T a án ghi bi n bản phi n t a: Bà Trần Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh H a.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh H a tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Nhật - Kiểm sát vi n.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa mở phi n t a xét xử sơ th m vụ án hình sự thụ lý số 73/2022/HSST ngày 26/5/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST-HS ngày 06/6/2022, thông báo hoãn phi n t a số 64/TB-TA ngày 16/6/2022 đối với bị cáo:

H và t n: Nguyễn Văn T, sinh năm 1969 tại Phú Yên; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh H a; nghề nghiệp: Nuôi hải sản; trình độ văn hoá: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha: Nguyễn Văn N (sinh năm 1960) và mẹ: Huỳnh Thị T (đã chết); vợ: Tô Thị Mỹ C (sinh năm 1968 đã ly hôn), có 03 con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 01/7/1992 bị UBND tỉnh Khánh H a áp dụng biện pháp cưỡng bức lao động thời hạn 01 năm.

- Ngày 29/02/2016, bị Công an thành phố Cam Ranh xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe c a người khác.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Bị hại:

Bà Trần Thị L, sinh năm 1973, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố R, Khánh Hòa. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Tô Thị Mỹ C, sinh năm: 1968; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, thành phố R, Khánh Hòa. Có mặt.

2. Anh Khổng Trọng K, sinh năm 1998, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

3. Chị Lưu Trần Bảo N, sinh năm 2003, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh H a. Vắng mặt.

NỘI DUNG V ÁN:

h

i i

r n h ơ

n di n i n i hi n a n i d n

n

nh a :

Khoảng 20 giờ ngày 25/8/2021, Nguyễn Văn T đến nhà chị C ở tổ dân phố T, phường C, thành phố R để lấy máy mô tơ làm đìa nuôi ốc hương. Chị C thấy T đến thì bỏ chạy ra khu vực nuôi tôm phía sau nhà trốn vì chị C cho rằng trước đây T đã nhiều lần đánh chị C. To đuổi theo chị C rồi dùng tay đánh vào người chị C. Chị C lấy điện thoại di động hiệu Oppo F1s để g i Công an phường Cam Thuận. T giật lấy điện thoại c a chị C và ném xuống hồ nước nuôi tôm. Lúc này, T thấy điện thoại di động Samsung A715 128G màu xanh c a chị Trần Thị L để ở tr n bàn gần đó, T nghĩ điện thoại c a chị C n n lấy ném xuống hồ nước nuôi tôm làm hư hỏng để chị C không g i điện thoại được báo Công an. T tiếp tục dùng kéo đuổi theo chị C thì được m i người can ngăn n n T bỏ về.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 94 ngày 06/10/2021 c a Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu xám trị giá: 900.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A715 128G màu xanh trị giá: 5.992.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 6.892.000 đồng.

Bản cáo trạng số 09/CT-VKSCR-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Hủy h i i ản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phi n t a:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh giữ nguy n Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn T xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phi n t a bị cáo đã bồi thường đ số tiền 5.992.000 đồng cho bị hại Trần Thị L n n ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường này và buộc bị cáo T phải tiếp tục bồi thường số tiền 900.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan bà Tô Thị Mỹ C.

Về xử lý vật chứng:

Các vật chứng đã được cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho ch sở hữu đúng theo quy định c a pháp luật n n không xem xét.

Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận, tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo xin được hưởng án treo.

NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X :

r n ơ n i d n

n n

i i r n h ơ

n

h

ra

h i ranh ận i hi n a H i n

nhận h y nh sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thành phố Cam Ranh, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phi n tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan, người làm chứng vắng mặt tại phi n t a nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đ lời khai, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định c a pháp luật.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Về hành vi phạm tội c a bị cáo: Tại phi n t a, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai c a bị cáo phù hợp với lời khai c a bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan, người làm chứng; Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được th m tra tại phi n t a n n có đ cơ sở xác định:

Khoảng 20 giờ ngày 25/8/2021, tại nhà c a bà Tô Thị Mỹ C ở tổ dân phố T, phường C, thành phố R; Nguyễn Văn T đã có hành vi ném điện thoại di động hiệu Samsung A715 128G màu xanh c a chị Trần Thị L vào hồ nước mặn nuôi tôm gây hư hỏng tài sản với thiệt hại 5.992.000 đồng.

Như vậy, hành vi h y hoại tài sản c a bị cáo T đã đ dấu hiệu cấu thành tội “Hủy h i i ản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015.

Cáo trạng c a Viện kiểm sát và kết luận c a Kiểm sát vi n tại phi n t a truy tố bị cáo Nguyễn Văn T theo đúng tội danh và điều luật n u tr n là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm và hành vi c a bị cáo trong vụ án:

Xét thấy: Hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản c a công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh – trật tự tại địa phương. Tuy nhi n, hành vi c a bị cáo là nhất thời phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo một mức án tương xứng phù hợp với hành vi phạm tội c a mình.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thao không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều khai báo thành kh n, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội c a mình, tại phi n t a bị cáo đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghi m tr ng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần xem xét những tình tiết này để Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình để bị cáo thấy được sự khoan hồng c a pháp luật mà an tâm, phấn đấu cải tạo tốt.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử áp dụng th m Điều 65 Bộ luật hình sự không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đ răn đe và ph ng ngừa tội phạm chung.

[3] Đối với hành vi c a Nguyễn Văn T h y hoại tài sản là điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu xám trị giá 900.000 đồng c a bà Tô Thị Mỹ C. Hội đồng xét xử xét thấy điện thoại này là tài sản bà C mua trong thời kỳ hôn nhân với bị cáo T n n đây là tài sản chung được xác lập trong thời kỳ hôn nhân, chưa được phân chia tài sản n n chưa đ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T là phù hợp.

[4] Đối với hành vi c a Nguyễn Văn T dùng tay đánh vào người bà Tô Thị Mỹ C nhưng không gây thương tích gì, bà C không đến cơ sở y tế để điều trị và không có y u cầu khởi tố n n không đ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T về hành vi này là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng:

Tất cả các vật chứng gồm 02 điện thoại di động đã trả lại cho bị hại là bà Trần Thị L và người có quyền lợi nghĩa vụ, li n quan là bà Tô Thị Mỹ C đúng theo quy định c a pháp luật n n Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phi n t a bị cáo T đã bồi thường đ số tiền 5.992.000 đồng cho bị hại Trần Thị L, bị hại L không y u cầu bị cáo bồi thường gì th m nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện giữa bị cáo và bị hại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan bà Tô Thị Mỹ C vắng mặt nhưng có y u cầu bị cáo bồi thường số tiền 900.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này cho bà C n n Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ th m và án phí dân sự sơ th m theo quy định c a pháp luật.

Vì

ẽ r n;

QUYẾT Đ NH:

1. Tuy n bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Hủy h i i ản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn T;

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy h i i ản” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuy n án sơ th m. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Uỷ ban nhân dân phường Cam Phú, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh H a giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Quy định: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định c a Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở l n, thì T a án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù c a bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì T a án buộc người đó phải chấp hành c a bản án trước và tổng hợp hình phạt c a bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 589 Bộ luật dân sự 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan là bà Tô Thị Mỹ C số tiền 900.000đ (Chín r n hìn n ).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí t a án:

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai r n hìn n ) án phí hình sự sơ th m và 300.000đ (Ba r n hìn n ) án phí dân sự sơ th m.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời giạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được ni m yết công khai theo quy định c a pháp luật để y u cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh H a xét xử phúc th m.

Cỡ chữ