vanban.org

Bản án 54/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 17/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589, Điều 591 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Lưu Văn N bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là chị Phạm Thị Luyến tổng số tiền 340.081.000 (Ba trăm bốn mươi triệu, không trăm tám mươi mốt nghìn) đồng. Buộc bị cáo Lưu Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho các con bị hại là cháu Vũ Thành Duy sinh ngày 09/11/2010 và cháu V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn N phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589, Điều 591 Bộ luật Dân sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2022/HS-ST
Ngày 17-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình

Thẩm phán: Ông Lưu Văn Tỉnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lương Thị Kim Dung

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Bà Nguyễn Thị Mai Vinh

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Đức – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Ân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Lưu Văn N; sinh ngày 22 tháng 8 năm 1989 tại Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn Kim Định, xã Đại Đức, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965; chưa có vợ con; tiền án tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/11/2021 đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:

- Ông Lê Bá Châu – Luật sư Công ty Luật CMA thuộc đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Bà Nguyễn Thị Thu Hòa – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng. Có mặt.

Bị hại: Anh Vũ Thành T, sinh năm 1984 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm 9, thôn Tiên Hội, xã An Tiến, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các con của bị hại là cháu Vũ Thành D sinh năm 2010 và Vũ Thị Gia H sinh năm 2019: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Hải Phòng. Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Bùi Văn T, anh Nguyễn Văn T, anh Lang Văn K, anh Nguyễn Thanh D, chị Nguyễn Thị V chị Vũ Thị Ngọc H. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h15’ ngày 19/11/2021, anh Vũ Thành T, sinh năm 1984, nơi cư trú: Tiên Hội, An Tiến, An Lão, Hải Phòng cùng Lưu Văn N; Bùi Văn Toản, sinh năm 1989, nơi cư trú: Mỹ Nguyên, Quang Trung, Kiến Xương, Thái Bình; Nguyễn Văn Tùng, sinh năm 1995, nơi cư trú: Phủ Niệm, Thái Sơn, An Lão, Hải Phòng; Lang Văn Kính, sinh năm 1995, nơi cư trú: Lộc Tiến, Châu Tiến, Quỳ Hợp, Nghệ An; Nguyễn Thanh Dũng, sinh năm 1985, nơi cư trú: Tràng Duệ, Lê Lợi, An Dương, Hải Phòng; Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1986, nơi cư trú: Hà Nhuận 4, An Hòa, An Dương, Hải Phòng; Vũ Thị Ngọc Hân, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn 3, Cao Minh, Vĩnh Bảo, Hải Phòng ăn liên hoan tại tầng 2, nhà hàng Vạn Lộc thuộc thôn Phương Chử Đông, Trường Thành, An Lão, Hải Phòng. Trong lúc ăn, giữa Dũng và Nam xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi chửi nhau thì anh Trung và mọi người can ngăn. Nam xuống bếp của quán ở tầng 1 lấy 01 dao nhọn giấu vào trong người rồi lên tầng 2. Khi thấy Nam lên, anh Trung ôm can ngăn, đẩy Nam ra gần lối xuống cầu thang thì Nam lấy dao trong người ra đâm 02 nhát vào vùng bụng anh Trung. Sau khi đâm xong, Nam cầm theo dao ném vào khu vực bếp của nhà hàng. Anh Trung bị đâm gục xuống trước cửa quán thì được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, đến ngày 20/11/2021thì anh Trung tử vong.

Tại Bản kết luận giám định số 245/2021/GĐP ngày 11/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hải Phòng kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Vũ Thành T, sinh năm: 1984, ĐKNKTT: Thôn Tiên Hội, xã An Tiến, huyện An Lão, TP Hải Phòng: Nạn nhân chết do sốc mất máu cấp.

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS-P2 ngày 23/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Lưu Văn N về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa;

Bị cáo khai nhận:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Trong lúc ăn uống bị cáo có mâu thuẫn cãi nhau với Dũng và được anh Trung can ngăn. Bị cáo đã xuống bếp của nhà hàng lấy dao lên giải để giải quyết mâu thuẫn với Dũng. Tuy nhiên, do uống nhiều rượu, không làm chủ được hành vi của mình nên khi anh Trung can ngăn bị cáo đã dùng dao đâm liên tiếp 02 nhát vào bụng anh Trung. Sau khi đâm anh Trung, bị cáo đã cùng mọi người gọi xe taxi để đưa anh Trung đi cấp cứu và về nhà chở mẹ bị cáo lên bệnh viện thăm anh Trung. Tuy nhiên trên đường đi mẹ bị cáo bị đau tim nên phải quay lại. Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và đồng ý với tất cả các yêu cầu về bồi thường chi phí mai táng, bồi thường tổn thất về tinh thần và cấp dưỡng của gia đình bị hại.

Người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Phạm Thị Luyến trình bày:

Chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho gia đình chị số tiền chi phí mai táng là 201.081.000 đồng. Bồi thường tổn thất về tinh thần ở mức cao nhất là 100 tháng lương cơ sở tương đương với số tiền 149.000.000 đồng. Cấp dưỡng cho 02 con của bị hại là các cháu Vũ Thành Duy, Vũ Thị Gia Hân đến khi các cháu đủ 18 tuổi với mức 2.000.000 đồng/tháng/cháu. Cấp dưỡng cho bố mẹ bị hại là ông Vũ Văn Bình và bà Đào Thị Lý cho đến khi chết với mức 1.000.000 đồng/tháng/người.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn giữa bị cáo Lưu Văn N và Nguyễn Thanh Dũng trong lúc uống rượu nên bị cáo đã xuống khu vực bếp lấy dao nhọn giấu vào trong người rồi đi lên tầng hai gặp Dũng. Khi thấy bị cáo Nam đi lên, anh Vũ Thành T can ngăn và kéo Nam ra khu vực cầu thang thì Nam đã dùng dao đâm anh Trung 02 nhát vào bụng làm anh Trung bị chết. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Giết người theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lưu Văn N hình phạt tù Chung thân về tội “Giết người”.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đề nghị theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của những người bào chữa cho bị cáo:

Đồng ý với tội danh và khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến việc sau khi phạm tội bị cáo đã cùng những người khác gọi xe để đưa bị hại lên bệnh viện cấp cứu để ngăn chặn hậu quả chết người xảy ra. Sau đó bị cáo đã về nhà chở mẹ lên bệnh viện để hỏi thăm tình hình sức khỏe của bị hại, tuy nhiên do mẹ bị cáo sức khỏe yếu nên đi nửa đường phải quay lại. Bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân tốt. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến Cơ quan Công an để đầu thú và khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Như vậy, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo ăn năn hối cỉa nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các cháu con bị hại là Vũ Thành Duy và Vũ Thị Gia Hân:

Đồng ý với tội danh và khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo. Không đồng ý với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo về việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bởi lẽ, việc khắc phục hậu quả phải mang tính kịp thời và hạn chế tối đa hậu quả của tội phạm. Gia đình bị cáo mới bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng là quá thấp so với yêu cầu của gia đình bị hại. Do đó, đề nghị chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại bao gồm 201.081.000 đồng tiền chi phí mai táng, 149.000.000 đồng tiền bồi thường tổn thất về tinh thân. Cấp dưỡng cho 02 con của bị hại là các cháu Vũ Thành Duy, Vũ Thị Gia Hân đến khi các cháu đủ 18 tuổi với mức 2.000.000 đồng/tháng/cháu. Cấp dưỡng cho bố mẹ bị hại là ông Vũ Văn Bình và bà Đào Thị Lý cho đến khi chết với mức 1.000.000 đồng/tháng/người.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 19/11/2021, do mâu thuẫn giữa Lưu Văn N và Nguyễn Thanh Dũng trong lúc uống rượu, Nam đã xuống khu vực bếp lấy dao nhọn giấu vào trong người rồi đi lên tầng hai gặp Dũng. Khi thấy Nam đi lên, anh Vũ Thành T can ngăn và kéo Nam ra khu vực cầu thang thì Nam đã dùng dao đâm anh Trung 02 nhát vào bụng làm anh Trung bị chết. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Lưu Văn N đã phạm tội “Giết người” vi phạm Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng con người đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây đau thương tang tóc cho gia đình nạn nhân. Vì vậy, cần xét xử nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết định khung: Xuất phát từ mâu thuẫn trong lúc uống rượu giữa Lưu Văn N và Nguyễn Thanh Dũng dẫn đến đánh cãi chửi nhau. Mặc dù anh Vũ Thành T không có mâu thuẫn gì với bị cáo, khi thấy Nam lấy dao đi lên gặp Dũng để giải quyết mâu thuẫn, anh Trung can ngăn, kéo Nam lại thì bị Nam dùng dao dâm liên tiếp 02 nhát vào bụng khiến anh Trung chết do sốc mất máu cấp. Hành vi nêu trên của bị cáo thể hiện bản tính côn đồ, coi thường pháp luật, mặc dù không có mâu thuẫn với bị hại nhưng vì bị hại can ngăn nhằm ngăn chặn hành vi trái pháp luật của bị cáo mà bị cáo đã đâm liên tiếp 02 nhát vào vị trí trọng yếu trên cơ thể của bị hại gây hậu quả làm bị hại chết. Do đó, bị cáo phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng “Có tính chất côn đồ” vi phạm điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Văn N nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, bị cáo có cùng những người khác gọi xe đưa bị hại đi cấp cứu và đến cơ quan Công an để đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với quan điểm của người bào chữa cho rằng bị cáo sau khi phạm tội đã cùng những người khác gọi xe để đưa bị cáo đi cấp cứu, gia đình bị cáo đã bồi thường 10.000.000 đồng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 đồng thời áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng nên không có cơ sở để áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b (Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại) khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có cùng với mọi người đưa bị hại đi cấp cứu nhưng sau đó lại bỏ về, đi lang thang và ra đầu thú nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Xét hành vi phạm tội của bị cáo quyết liệt, bị cáo đã đâm bị hại hai nhát vào bụng khiến bị hại chết do sốc mất máu cấp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.

Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại đến tính mạng con người với tính chất côn đồ tuy nhiên cũng xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường một phần nhỏ cho gia đình bị hại nên chưa đến mức loại bỏ bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng mức hình phạt tù chung thân như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị cáo đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu về bồi thường dân sự theo yêu cầu của gia đình bị hại về tiền chi phí mai táng, cấp cứu, cứu chữa; bồi thường tổn thất về tinh thần; cấp dưỡng cho 02 con và bố mẹ già của bị hại. Hội đồng xét xử nhận thấy các yêu cầu về bồi thường dân sự của đại diện hợp pháp cho bị hại là có căn cứ. Do đó, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 201.081.000 đồng tiền chi phí mai táng, cấp cứu, cứu chữa bị hại và số tiền bồi thường tổn thất tinh thần tương đương với 100 tháng lương cơ sở là 149.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 350.081.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng.Vì vậy, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 340.081.000 đồng.

Ngoài ra, cần buộc bị cáo phải phải có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho các con bị hại là Vũ Thành Duy, Vũ Thị Gia Hân kể từ ngày 19/11/2021 đến khi các cháu đủ 18 tuổi với mức 2.000.000 đồng/tháng/cháu; cấp dưỡng cho bố mẹ bị hại là ông Vũ Văn Bình và bà Đào Thị Lý kể từ ngày 19/11/2021 cho đến khi ông Bình, bà Lý chết với mức 1.000.000 đồng/tháng/người.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo màu xanh dương là điện thoại của bị cáo không liên quan đến sự việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 dao bầu, 01 quần vải màu xanh, 01 áo phông màu đen, 01 đôi giày da màu đen, 01 áo khoác gió hai lớp; 01 áo phông ngắn tay; 01 áo khoác gió màu xanh; 01 áo khoắc phao màu xanh lá cây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Buộc bị cáo Lưu Văn N phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các cháu Vũ Thành Duy và Vũ Thị Gia Hân được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lưu Văn N hình phạt tù Chung thân về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 11 năm 2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589, Điều 591 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Lưu Văn N bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là chị Phạm Thị Luyến tổng số tiền 340.081.000 (Ba trăm bốn mươi triệu, không trăm tám mươi mốt nghìn) đồng.

Buộc bị cáo Lưu Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho các con bị hại là cháu Vũ Thành Duy sinh ngày 09/11/2010 và cháu Vũ Thị Gia Hân sinh ngày 29/01/2019 với số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng/tháng/cháu kể từ ngày 19/11/2021 đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bố mẹ bị hại là ông Vũ Văn Bình và bà Đào Thị Lý số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng/tháng/người kể từ ngày 19/11/2021 cho đến khi ông Bình và bà Lý chết.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Lưu Văn N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo màu xanh dương Imei1 861325040868811, Imei2 861325040868803.

Tịch thu tiêu hủy 01 dao bầu dài 32,6cm; 01 quần vải màu xanh đen dài 90cm; 01 áo phông màu đen dài 67cm; 01 đôi giày da màu đen dài 30cm, 01 áo khoác gió hai lớp; 01 áo phông ngắn tay cổ màu xanh đen; 01 áo khoác gió màu xanh; 01 áo khoắc phao màu xanh lá cây.

(Đặc điểm chi tiết thể hiện theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 31/3/2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lưu Văn N phải nộp tiền số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 17.304.050 (Mười bảy triệu ba trăm linh tư nghìn không trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 61; Điều 62; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các cháu Vũ Thành Duy và Vũ Thị Gia Hân có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ