vanban.org

Bản án 54/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần H: 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "h - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54 /2022/HS-ST
Ngày: 24 -11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Hồng

Bà Trần Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc – Thư ký TAND huyện Vũng Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tham gia phiên tòa: Võ Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2022/TLST-HS, ngày 03 tháng 11 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

Trần H, sinh ngày 16/01/1992; giới tính: Nam; nơi cư trú: ấp 0, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần C, sinh năm 1964 và bà Đỗ P, sinh năm 1967. Anh chị em ruột có 02 người lớn nhất sinh 1989, nhỏ nhất là bị cáo

- Tiền án: Không

- Tiền sự: 01 tiền sự.Vào ngày 21/5/2021, Công an xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng), đã nộp phạt được 350.000 đồng ( Ba trăm năm mươi nghìn đồng).

- Nhân thân: ngày 23/3/2017 bị Tòa án nhân dân T xử phạt 01(một) năm tù về tội: “ Cướp giật tài sản”, Bản án số 20/2017/HSST.Đã chấp hành hình phạt xong ngày 19/11/2017.

Bị cáo được cho tại ngoại và hiện có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Văn D, sinh ngày 01/11/2005 (có đơn xin vắng)

Địa chỉ: ấp 0, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

-Người đại diện hợp pháp cho Văn D là:

1.Văn C, sinh năm 1978

2. Trần T, sinh năm 1982

Cùng trú tại: ấp 0, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Trần T là ông Văn C, sinh năm 1978 ( có đơn xin vắng)

Trú tại: ấp 2, xã Tân Quới Trung, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn N, sinh năm 1978 (có đơn xin vắng)

Trú tại: khóm c, thị trấn V, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

2. Trần C, sinh năm 1964 ( có đơn xin vắng)

Trú tại: ấp 0, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

3. Đỗ H, sinh năm 1967 (có đơn xin vắng)

Trú tại: ấp 2, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần H làm công nhân Công ty trách nhiệm hữu hạn Tỷ Xuân tại Khu Công Nghiệp Hòa Phú thuộc xã p, huyện H, tỉnh Vĩnh Long. Sau này H xin chuyển về làm công nhân chi nhánh của Công ty tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long nhưng không được chấp nhận, nên tự ý nghỉ việc, Sau khi nghỉ việc Hiển không tìm được việc khác, không có tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định lợi dụng tìm nhà ai sơ hở trong việc trông giữ và xung quanh không có người để lén lút đột nhập vào trộm điện thoại di động bán lấy tiền để tiêu xài.

Vào khoảng 22 giờ ngày 20/6/2022, Hiển đi bộ một mình từ nhà ra đường Tỉnh lộ 901 đến khu vực trụ sở ấp 0, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long để tìm nhà nào sơ hở trong việc trông giữ lén lút đột nhập vào trộm điện thoại di động bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi ngang qua nhà ông Văn C thuộc ấp 0, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, thấy cửa nhà của ông C chỉ đóng khép hờ và xung quanh không có người, nên H đi vào nhà, đi vào phòng khách thấy có bật đèn ngủ, H thấy vợ chồng ông C đang nằm ngủ trên giường, nhưng không thấy có điện thoại di động, H tiếp tục đi vào phòng ngủ của Văn D con gái ông C, thấy D đang nằm ngủ một mình trên giường bên cạnh đầu nằm có 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A92 màu xanh đang sạc pin, H đi đến dùng hai tay vén mùng lên, đưa tay trái lấy chiếc điện thoại lên, tay phải rút chui dây sạc ra khỏi chiếc điện thoại, rồi H cầm lấy chiếc điện thoại lên nhanh chóng đi ra khỏi nhà của ông C. Khi đi cách nhà ông C khoảng 50m thì H tháo ốp lưng của chiếc điện thoại vừa lấy trộm được ném xuống sông. Về đến nhà H mở lấy sim ra rồi bẻ hỏng sim bỏ vào thùng rác để cặp đường Tỉnh lộ 901.

Sau đó H sử dụng chiếc điện thoại di động của cha H truy cập vào Youtube để học cách mở khóa điện thoại di động vừa trộm được. Sau khi mở khóa điện thoại thì dữ liệu trong điện thoại đã bị xóa hết nên H đã cài đặt lại một số chương trình rồi H sử dụng điện thoại để truy cập Internet (xem phim, ca nhạc....)

Đến 07 giờ ngày 21/6/2022, H điều khiển xe môtô đi một mình đem điện thoại vừa trộm được xuống tiệm cầm đồ “ HC” do chị Nguyễn T, sinh năm 1978 thuộc khóm, thị trấn V, huyện Vũng Liêm làm chủ cầm với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Sau đó H đi Vĩnh Long sử dụng hết số tiền trên để uống Cà phê và nhậu với bạn bè.

Khoảng 10 ngày sau, H gọi điện thoại nói với Nguyễn S, sinh năm 1990, thường trú ấp 0, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long là H đang cầm 01 ( một) chiếc điện thoại di động ở thị trấn V, để H chở S đi xuống làm lại giấy cầm điện thoại đưa cho S giữ khi nào S có tiền thì chuộc chiếc điện thoại ra sử dụng S đồng ý. Đến chiều ngày hôm sau, H chở S đến cơ sở cầm đồ “ HC” làm lại giấy cầm điện thoại trên đưa cho S giữ.

Đến ngày 12/7/2022, ông C hay D mất chiếc điện thoại di động là do Trần H lấy trộm nên đến Công an xã T trình báo sự việc. Công an xã tiến hành mời H lên làm việc

Tại kết luận số: 40/KL-HĐĐGTS, ngày 18/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vũng Liêm xác định giá trị chiếc điện thoại OPPO A92 có giá trị thành tiền (ngày 20/6/2022) là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Trong quá trình điều tra, bị cáo Trần H đã thành khẩn khai báo, tự nguyện chuộc lại điện thoại lấy trộm giao nộp cho Công an xã T. Ngày 25/7/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũng Liêm đã trả lại chiếc điện thoại di động OPPO A92 cho bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Văn D đã nhận lại tài sản bị mất là chiếc điện thoại di động OPPPO 92 xong và không yêu cầu gì khác.

Đối với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) ông Văn C và bà Đỗ P đưa cho bị cáo chuộc lại điện thoại di động lấy trộm, Ông Ch bà P không có yêu cầu đòi lại .

Đối với Nguyễn S và chị Nguyễn T không biết chiếc điện thoại di động OPPO A92 bị cáo H cầm là tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý.

Cáo trạng số:45/CT-VKSHVL ngày 30/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm đã truy tố Trần Thế Hiển về tội: Trộm cắp tài sản; theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần H; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Trần H mức án từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo:Thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần H đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của điều tra viên, kiểm sát viên và lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và các chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua lời khai của bị cáo đã thể hiện: Vào khoảng 20 giờ ngày 20/6/2022, bị cáo Trần H đã lén lút đột nhập vào nhà của ông Văn C ở ấp 0, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long lấy trộm một chiếc điên thoại di động hiệu OPPO A92 của chị Văn D con ông CTại thời điểm định giá ngày 18/7/2022 có giá trị thành tiền là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) [2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tài sản hợp pháp của người khác luôn được pháp luật bảo vệ tránh mọi sự xâm hại, bị cáo đang có 01 tiền sự ngày 21/5/2021 bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo đã nộp phạt được 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo có nhân thân xấu từng bị kết án 01 lần về hành vi “ Cướp giật tài sản” từng được cải tạo giáo dục cách ly xã hội để thành một công dân tốt. Nhưng bị cáo không ăn năn, hối lỗi tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm gây thiệt hại tới tài sản hợp pháp của người khác chỉ vì mục đích muốn có tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo gây hoang mang trong quần chứng nhân dân, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém thể hiện sự coi thường bất chấp pháp luật, nên cần có hình phạt nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định ñeå giaùo duïc rieâng vaø phoøng ngöøa chung cho xaõ hoäi.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.; Tài sản trộm trả cho bị hại xong; bị cáo có cha ruột là ông Trần C được Chủ Tịch nước tặng Huân chương chiến công hạng ba “ Đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Quốc tế vẽ vang tại Campuchia”. Ngoài ra bị cáo còn có ông Nguyễn T là em ruột bà nội của bị cáo là liệt sĩ. Nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Do bị cáo không có nghề nghiệp và hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại Văn D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) của ông Văn C và bà Đỗ P đưa cho bị cáo để chuộc lại điện thoại di động lấy trộm, Ông C bà P không có yêu cầu đòi lại. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt dành cho bị cáo là có căn cứ.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẻ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Trần H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

Xử phạt: Bị cáo Trần H: 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

2. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo

3.Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại Văn D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) của ông Văn C và bà Đỗ P đưa cho bị cáo để chuộc lại điện thoại lấy trộm, Ông C bà P không có yêu cầu bị cáo trả lại. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần H phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ sau ngày tuyên án. Riêng bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại phúc thẩm./.

Cỡ chữ