- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình T phạm trội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2022/HS-ST Ngày 12/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Vĩnh.
2. Bà Trần Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết Huân - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2022/HSST–TL ngày 06/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXXST- HS ngày 28/7/2022 đối với bị cáo:
Họ và Tên: Phạm Đình T; Sinh ngày 10/10/1958 tại xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;
Nơi cư trú: thôn MT, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Đình Toái (đã chết) và bà Nguyễn Thị Trĩnh; Có vợ Nguyễn Thị Danh, sinh năm 1960 và 03 con, con lớn sinh năm 1981, con nhỏ sinh năm 1989.
Tiền sự: Không;
Tiền án: Có 2 tiền án.
+ Tại Bản án hình sự số 57/2013/HSST ngày 08/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, xử phạt 2 năm tù, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, phạt bổ sung 5.000.000 đồng và tiền án phí 200.000 đồng. Ngày 01/4/2015, T chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 19/6/2015, T nộp 200.000 đồng tiền án phí và 40.000 đồng tiền phạt bổ sung. Còn lại 4.960.000 đồng tiền phạt bổ sung T không có điều kiện thi hành. Ngày 21/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà đã miễn toàn bộ khoản tiền trên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng đã đình chỉ thi hành án đối với khoản tiền phạt bổ sung 4.960.000 đồng.
+ Tại Bản án hình sự số 78/2020/HSST ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà tuyên phạt 2 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, án phí 200.000 đồng. Ngày 09/02/2022, T chấp hành xong hình phạt tù và tiền án phí.
Nhân thân:
+ Năm 1980 tham gia quân đội đến năm 1983 xuất ngũ về địa phương lao động tự do.
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHC ngày 08/5/2020 của Công an xã H, huyện Hưng Hà xử phạt cảnh cáo đối với Phạm Đình T về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2022 đến ngày 21/4/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người chứng kiến :
1. Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1960, nơi cư trú: thôn M, xã MT, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
2. Ông Nhâm Quang H1, sinh năm 1982, nơi cư trú: thôn Hưng Sơn, xã Minh Tân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
(Đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 15/4/2022, Phạm Đình T đi bộ từ nhà ra trục đường xã H, huyện Hưng Hà và đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ đến khu vực cầu Đình Thượng, xã Minh Tân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến ngã tư Tiên Hưng, xã Minh Tân, T xuống xe đi bộ đến khu vực chân cầu Đình Thượng gặp một người phụ nữ khoảng hơn 30 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1,65m, T không biết tên tuổi, địa chỉ người phụ nữ này, biết người này có ma túy bán nên T hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại Heroine, được người phụ nữ đồng ý. T lấy 200.000 đồng đưa cho người phụ nữ và người phụ nữ lấy 01 gói ma túy có đặc điểm gói bằng giấy kim loại màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục đang cầm ở lòng bàn tay phải bán cho T, T cầm gói ma túy bỏ vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi bộ về hướng thôn LM, xã MT để tìm nơi sử dụng. Khoảng 06 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ trên trục đường thôn LM, xã MT thì bị Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Đông Hưng phối hợp với Công an xã MT phát hiện T có ghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy trong người nên đã yêu cầu T dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Ngọc Hưng, sinh năm 1960 ở thôn M, xã MT, huyện Đông Hưng và ông Nhâm Quang H, sinh năm 1982 ở thôn Hưng Sơn, xã Minh Tân, huyện Đông Hưng, T tự nguyện lấy gói ma túy cất giấu trong túi áo ngực bên trái đang mặc giao nộp cho tổ công tác. Tồ công tác Công an huyện Đông Hưng đã đưa T về trụ sở Ủy ban nhân dân xã MT lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong quản lý vật chứng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Đình T tại thôn MT, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng không quản lý thu giữ tài sản, đồ vật gì liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 123/KL-KTHS(MT) ngày 18/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Phạm Đình T là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 0,1358 gam (Không phẩy một nghìn ba trăm năm mươi tám gam).
Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSĐH ngày 06/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Phạm Đình T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên trình bày bản luận tội:
Tại phiên tòa sơ thẩm không có tình tiết nào mới làm thay đổi nội dung, bản chất vu án, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Đình T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đình T từ 05 năm 03 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù; đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo mua ma túy về sử dụng không nhằm mục đích vụ lợi. Về vật chứng vụ án căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định có khối lượng 0,1131 gam ma túy Heroine; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[I[ Về tố tụ ng: Trong quá trì nh điề u tra , truy tố cá c Điề u tra viên , Kiể m sát viên đã tiến hành thu thập các tà i liệ u, chứ ng cứ theo đú ng cá c quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Bị cáo không có khiế u nạ i , tố cá o, do đó cá c tà i liệ u , chứ ng cứ trong hồ sơ vụ á n là hợ p phá p.
[II] Về nộ i dung:
[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Đình T đã khai nhận: Do nghiện ma túy nên sáng ngày 15/4/2022 T đến khu vực chân cầu Đình Thượng, xã Minh Tân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình mua 200.000 đồng ma túy để sử dụng. Sau khi mua được ma túy T bỏ ma túy vào túi áo ngực bên trái đang mặc và đi tìm nơi sử dụng, khi T đang đi trên đường trục thôn M, xã MT, huyện Đông Hưng thì bị Công an huyện Đông Hưng bắt giữ và thu số ma túy mà T đã mua về để sử dụng.
Lời khai của bị cáo Phạm Đình T phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an Đông Hưng lập hồi 06 giờ 55 phút ngày 15/4/2022 và vật chứng vụ án đã thu giữ giám định có khối lượng 0,1358 gam Heroine; phù hợp lời khai của những người chứng kiến ông Nguyễn Ngọc Hưng và ông Nhâm Quang H, đều khai đã chứng kiến việc Công an thu giữ quản lý niêm phong gói ma túy của Phạm Đình T giao nộp; bản thân bị cáo có 02 tiền án về tội phạm ma túy chưa được xóa án tích. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Đình T đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
…
o) Tái phạm nguy hiểm;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương; bị cáo có 2 tiền án về tội tàng trữ trái phất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo mình mà tiếp tục mua ma túy về sử dụng, với khối lượng ma túy Heroine tàng trữ là 0,1358gam và bản thân bị cáo có 2 tiền án chưa được xóa án tích thì lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọ ng. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần lên án và xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
[3] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã
thành khẩ n khai bá o hà nh vi phạ m tộ i; Bị cáo có thời gian tham gia quân đội. Do đó , bị cáo Phạm Đình T đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ quy đị nh tạ i điể m s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .
[5] Về hì nh phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo mua ma tuý về sử dụng . Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về người bán ma túy cho bị cáo, theo bị cáo khai là một người phụ nữ khoảng 30 tuổi, dáng người gầy, đeo khẩu trang, bị cáo không biết tên, địa chỉ của người này ở khu vực cầu Đình Thượng, xã Lô Giang, huyện Đông Hưng, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được người đó là ai nên không có căn cứ điều tra xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Hêrôin là vật phẩm cấm lưu hành. Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Hêrôin còn lại sau giám định có khối lượng 0,1131gam.
[8] Về án phí Hình sự sơ thẩm : Bị cáo Phạm Đình T phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Đình T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Về áp dụng luật và hình phạt: Áp dụng điể m o khoản 2 Điề u 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự .
Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 15/4/2022.
[3] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Hêrôin có khối lượng 0,1131 gam còn lại sau giám định, được đựng trong phong bì số 123/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
[4] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.
Bị cáo Phạm Đình T phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Đình T có quyền kháng cáo bả n á n sơ thẩ m trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo bản án tính từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND huyện Đông Hưng; - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND tỉnh Thái Bình; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện Đông Hưng - Công an huyện Đông Hưng - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ( Đã ký) Bùi Tiến Hưng |