- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31/10/2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quyến
2. Bà Vũ Thị Xuyến
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Tố Tâm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2022/TLST-HNGĐ ngày 01/8/2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/9/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18/10/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992. Địa chỉ: tổ 5, khu 1, phường Th S, thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thế Lg, sinh năm 1974. Địa chỉ: tổ 5, khu 1, phường Th S, thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh; hiện đang chấp hành án tại Trại giam N T đóng tại xã N T, thành phố Đ B Ph, tỉnh Điện Biên, vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/7/2022, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg kết hôn với nhau năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Th S, thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H về ở với mẹ chồng tại tổ 5, khu 1, phường Th S, thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau, nguyên nhân là do thường xuyên bị chồng đánh đập, xảy ra bất đồng quan điểm, chị H và con chung về ở nhà mẹ đẻ tại xóm Bắc, xã L V, thị xã Qg Y từ đó đến nay, đến năm 2016 anh Nguyễn Thế Lg phạm tội bị bắt và hiện nay đang đi chấp hành án tù tại Trại giam N T đóng tại xã N T, thành phố Đ B Ph, tỉnh Điện Biên. Nay chị H xác định thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn cuộc sống vợ chồng với nhau không có hạnh phúc nên chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Nguyễn Thế Lg.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg có 01 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 30/7/2010, chị H nhận nuôi con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Thế Lg phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung; vay nợ chung không có.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/8/2022 của Trại giam N T đóng tại xã N T, thành phố Đ B Ph, tỉnh Điện Biên và bản tự khai ngày 17/8/2022 của anh Nguyễn Thế Lg, trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thế Lg và chị Nguyễn Thị H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Th S, thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống bình thường đến khoảng năm 2012, 2013 chị H thường xuyên lô đề cờ bạc nên đã dần dần sảy ra mâu thuẫn, anh nói vợ không được, anh thấy xấu hổ với gia đình và bạn bè. Nay chị Nguyễn Thị H viết đơn xin ly hôn anh Nguyễn Thế Lg đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
- Về con chung: Anh Nguyễn Thế Lg và chị Nguyễn Thị H có 01 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 30/7/2010, hiện nay anh đang chấp hành án phạt tù, ly hôn anh Nguyễn Thế Lg đồng ý giao con chung cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, đến khi anh chấp hành án xong sẽ đón con chung về nuôi.
- Về tài sản chung và vay nợ chung: Anh Nguyễn Thế Lg và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung; vay nợ chung không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật cho anh Nguyễn Thế Lg tuy nhiên anh Nguyễn Thế Lg hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam N T đóng tại xã N T, thành phố Đ B Ph, tỉnh Điện Biên, không có mặt tại các phiên họp nhưng đã có bản tự khai trình bày quan điểm về việc đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị H và đồng ý giao con chung cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng.
Tại biên bản xác minh ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh – Ông Nguyễn Duy Ng - khu Trưởng khu 1, phường Th S, thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh cung cấp sự việc: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 21/4/2010 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Th S, thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn về chung sống với mẹ chồng tại tổ 5, khu 1, phường Th S, thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng đã li thân không còn chung sống với nhau, cho đến tháng 02/2016 anh Nguyễn Thế Lg đã vi phạm pháp luật và hiện đang phải chấp hành án hành phạt tù tại Trại giam N T, thành phố Đ B Ph, tỉnh Điện Biên. Hiện nay vợ chồng chị H và anh Lg đã sống ly thân nhau mỗi người một nơi khác nhau và vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Thế Lg tại Tòa án, nên cũng đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình chung sống của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg có 01 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 30/7/2010. Hiện tại con chung của chị H và anh Lg đang do chị H nuôi dưỡng, sau khi ly hôn cũng đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Việc chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg có tài sản chung, nợ chung hay không địa phương không nắm được.
Tại biên bản ghi nhận quan điểm ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 30/7/2010 có quan điểm: Mẹ cháu có đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Nếu Toà án giải quyết ly hôn giữa bố mẹ cháu thì cháu có nguyện vọng mong được mẹ nuôi dưỡng cháu, vì hiện nay bố cháu đang phải chấp hành án hình phạt tù nên không có điều kiện để nuôi dưỡng cháu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và người tham gia tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cơ bản thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy chị H xác định không còn tình cảm nên muốn ly hôn với anh Lg, anh Lg cũng đồng ý ly hôn, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về ly hôn và nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Thế Lg và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn anh Nguyễn Thế Lg có nơi cư trú tại tổ 5, khu 1, phường Th S, thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Thế Lg, vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn đảm bảo đúng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg có đăng ký kết hôn từ năm 2010 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Nguyễn Thế Lg không quan tâm chăm sóc gia đình, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, trong quá trình sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau, chị H và anh Lg cùng thống nhất ly hôn. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Thế Lg là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg có 01 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 30/7/2010, chị Nguyễn Thị H nhận nuôi con chung và không yêu cầu anh Lg cấp dưỡng nuôi con chung. Như vậy, nguyện vọng nuôi con của chị Nguyễn Thị H phù hợp với nguyện vọng của cháu H (đã trên 07 tuổi) có nguyện vọng được ở với mẹ và quan điểm của anh Nguyễn Thế Lg đồng ý giao con chung cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng và anh Nguyễn Thế Lg không phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị Nguyễn Thị H, giao con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 30/7/2010 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thế Lg không có tài sản chung và vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thế Lg.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 30/7/2010 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 10/2022 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Anh Nguyễn Thế Lg không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau ly hôn, đương sự không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đồng thời đương sự không trực tiếp nuôi con chung không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006891 ngày 01/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh - VKSND thành phố Uông Bí. - Chi cục THADS thành phố Ug B. - UBND phường Th S, thành phố Ug B, tỉnh Quảng Ninh (Nơi ĐKKH) - Các đương sự. - Lưu án văn + Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Phúc Định |