- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Yến N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24-5-2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Bích Phượng, ông Trần Minh Bộ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mận - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Khánh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Yến N, sinh năm 2000; địa chỉ: thôn 2, thị trấn A, huyện A, tỉnh Bình Định, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Võ Tấn T, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ nguyên đơn bà Đinh Thị Yến N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Võ Tấn T tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia đình có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam vào năm 2019. Trong thời gian chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 6/2021 cho đến nay, không còn liên lạc với nhau nữa. Bà nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
- Về nuôi con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung là Đinh Võ Trấn T, sinh ngày 28/02/2020. Cháu T do bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc từ nhỏ và hiện nay cháu đang sống cùng với bà tại thị trấn A, huyện A, tình Bình Định. Khi ly hôn, bà có nguyện vọng trực tiếp nhận nuôi cháu T cho đến khi thành niên. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Võ Tấn T: Sau khi thụ lý, Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà. Tuy nhiên, ông T không đến Toà án làm việc, cố tình trốn tránh nên Toà án không thể lấy lời khai. Vì vậy, Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo các tài liệu chứng cứ thu thập được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật; Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đinh Thị Yến N. Về con chung: Giao cháu Đinh Võ Trấn T, sinh ngày 28/02/2020 cho bà Đinh Thị Yến N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị giải quyết.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được công bố tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Bà Đinh Thị Yến N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và yêu cầu giải quyết về nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Võ Tấn T có nơi cư trú tại xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P năm 2019 nên hôn nhân của họ là hợp pháp. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Bà N và ông T sống ly thân từ tháng 6 năm 2021 đến nay và không liên lạc với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T không đến Tòa án, không tham gia hòa giải, không tham gia phiên toà, điều đó cho thấy ông T không có thiện chí để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Đinh Thị Yến N là đúng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Bà N và ông T có 01 con chung là Đinh Võ Trấn T, sinh ngày 28/02/2020. Xét thấy, cháu T còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, cần sự chăm sóc của mẹ và hiện nay cháu đang sinh sống với mẹ. Vì vậy, giao cháu T cho bà N nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi của con, đúng với quy định của pháp luật. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có, ông T không có ý kiến gì nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Đinh Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39,147, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Yến N.
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đinh Thị Yến N và ông Võ Tấn T ly hôn.
Về nuôi con chung: Giao con Đinh Võ Trấn T, sinh ngày 28/02/2020 cho bà Đinh Thị Yến N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên đủ 18 tuổi. Ông Võ Tấn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đinh Thị Yến N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0010357, ngày 08 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Bà N đã nộp đủ tiền án phí.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Ninh; - UBND xã Tam Thành; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Trung Thành |