- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thu S và Hoàng Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu S và ông Hoàng Văn T ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 54/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 24-10-2022 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Duy Trâm và bà Lê Thị Chung
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông – Thư ký của Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông K’Dem - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu S. Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Bị đơn: Ông Hoàng Văn T. Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2022, trong quá trình xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Thu S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hoàng Văn T kết hôn ngày 15-3-2007, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau. Từ đầu năm 2022 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nay bà Lê Thị Thu S xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau. Bà S yêu cầu ly hôn ông Hoàng Văn T, việc ly hôn bà đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Hoàng Lê Bảo T, sinh ngày 31-3-2007 và Hoàng Văn H, sinh ngày 31-8-2012. Hiện đang sống cùng với bà S. Khi ly hôn yêu cầu giao cả hai con chung cho bà Lê Thị Thu S trực tiếp nuôi dưỡng, bà Lê Thị Thu S không yêu cầu ông Hoàng Văn T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Tài sản chung vợ chồng đã tự thỏa thuận giải quyết, tài sản nợ chung, nợ riêng và tài sản cho vay chung đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Ngoài ra, bà Lê Thị Thu S không yêu cầu gì khác.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Hoàng Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lê Thị Thu S kết hôn ngày 15-3-2007, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, kết hôn tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng chưa đến mức phải ly hôn, nguyện vọng của ông là vợ chồng trở về sống đoàn tụ, cùng nhau nuôi dưỡng con chung. Ông không đồng ý ly hôn bà Lê Thị Thu S.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Hoàng Lê Bảo T, sinh ngày 31-3-2007 và Hoàng Văn H, sinh ngày 31-8-2012. Trường hợp ly hôn ông yêu cầu giao con chung Hoàng Lê Bảo T cho bà Lê Thị Thu S trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Hoàng Văn H cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Tài sản chung trường hợp có tranh chấp ông sẽ làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết; tài sản nợ chung, nợ riêng, tài sản cho vay chung đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản trong vụ án này.
Ngoài ra, ông không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà Lê Thị Thu S và ông Hoàng Văn T ly hôn; chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Thu S về con chung: Giao con chung là Hoàng Lê Bảo T, sinh ngày 31-3-2007 và Hoàng Văn H, sinh ngày 31-8-2012 cho bà Lê Thị Thu S trực tiếp nuôi dưỡng, ông Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản không xem xét giải quyết; buộc bà Lê Thị Thu S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Thu S có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Hoàng Văn T. Ông Hoàng Văn T hiện đang cư trú tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Lê Thị Thu S và ông Hoàng Văn T tự nguyện kết hôn ngày 15-3-2007, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Thu S và ông Hoàng Văn T là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà Lê Thị Thu S yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng Văn T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà Lê Thị Thu S và ông Hoàng Văn T có hai con chung là Hoàng Lê Bảo T, sinh ngày 31-3-2007 và Hoàng Văn H, sinh ngày 31-8-2012, hiện nay đang sống cùng với bà S. Khi ly hôn bà S yêu cầu giao cả hai con chung cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con; ông T yêu cầu giao con chung Hoàng Lê Bảo T cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Hoàng Văn H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Hiện nay hai con chung đều đang sống cùng với bà S, nguyện vọng của hai cháu Hoàng Lê Bảo T và Hoàng Văn H đều mong muốn được cùng với mẹ bà Lê Thị Thu S là tự nguyện, không bị ai ép buộc; cần ổn định cuộc sống của con chung; bà Lê Thị Thu S có thu nhập, việc làm ổn định, có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, hiện nay ông Hoàng Văn T không có việc làm, thu nhập ổn định nên cần giao hai con chung là Hoàng Lê Bảo T, sinh ngày 31-3-2007 và Hoàng Văn H, sinh ngày 31-8-2012 cho bà Lê Thị Thu S trực tiếp nuôi dưỡng, ông Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với lợi ích của con.
Về tài sản: Tài sản chung vợ chồng đã tự thỏa thuận giải quyết, mỗi người đã tự quản lý, sử dụng một phần tài sản chung, không có yêu cầu giải quyết trong vụ án này, trường hợp tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật. Tài sản nợ chung, tài sản nợ riêng và tài sản cho vay chung bà S và ông T đều xác định đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên không xem xét giải quyết về tài sản.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị Thu S chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 2 Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu S và ông Hoàng Văn T ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Lê Bảo T, sinh ngày 31-3-2007 và Hoàng Văn H, sinh ngày 31-8-2012 cho bà Lê Thị Thu S trực tiếp nuôi dưỡng, ông Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền, nghĩa vụ thăm nom con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Bà Lê Thị Thu S phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006626 ngày 13 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. Bà Lê Thị Thu S đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Thu S, ông Hoàng Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND Di Linh; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - UBND xã T, huyện D; - Chi cục thi hành án huyện Di Linh; - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký tên và đóng dấu) Huỳnh Thị Mỹ Lệ |