- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NH SBM - T"
- Tòa quyết gì? Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM (VPB SMBC FC) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 54/2022/DS-ST Ngày: 08-8-2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Bằng;
- Ông Nguyễn Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố X xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 83/2022/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2022/QĐXXST-DS ngày 07/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2022/QĐST - DS ngày 21 tháng 7 năm 2022 giữa:
- Nguyên đơn: Công ty tài chính Ngân hàng SBM; trụ sở chính Tầng 2, Tòa nhà RT, số 09 B, phường 13, quận 4, thành phố H;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Hữu Y, sinh năm 1996, địa chỉ: cầu Kênh 1, ấp M, xã V, thành phố X, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền số 41/UQ-XL-TD 22 ngày 18/3/2022 của Công ty tài chính Ngân hàng SBM; văn bản ủy quyền số 69/UQXLTD 22 ngày 14/5/2022 của Công ty tài chính Ngân hàng SBM ủy quyền cho Công ty Luật TNHH MTV ĐL; văn bản ủy quyền số 72/UQTT-DLO-2022 ngày 15/5/2022 của Công ty Luật TNHH MTV ĐL), có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Ngọc T, sinh năm 1984, địa chỉ: khóm 3, phường CPA, thành phố X, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM (VPB SMBC FC) (viết tắt Công ty tài chính) có ông Trần Hữu Y đại diện trình bày: Ngày 16/9/2019, bà T có ký kết hợp đồng tín dụng số 20190916-0001234 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM (viết tắt là Công ty tài chính) vay số tiền 40.000.000 đồng; lãi suất 3.75%/tháng; mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, hình thức vay tín chấp. Theo thỏa thuận bà T có trách nhiệm thanh toán số tiền 73.535.046 đồng gồm gốc và lãi, trả liên tiếp trong vòng 36 tháng, trong đó 35 tháng đầu trả mỗi tháng 2.043.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.030.046 đồng, thời gian bắt đầu trả từ ngày 17/10/2019. Qúa trình thực hiện hợp đồng, bà T đã nhận đủ số tiền tiêu dùng cá nhân và có thanh toán cho Công ty tài chính được 11 lần, số tiền 22.605.000 đồng. Kể từ ngày 15/8/2020 đến nay bà T không thanh toán cho Công ty tài chính mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần. Do đó Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM yêu cầu bà T trả toàn bộ nợ gốc và lãi số tiền 50.930.046 đồng; gồm gốc số tiền 32.771.105 đồng; lãi số tiền 18.158.941 đồng. Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa,
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc bị đơn bà Trần Ngọc T thanh toán cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM toàn bộ gốc và lãi số tiền 50.930.046 đồng gồm gốc số tiền 32.771.105 đồng; lãi số tiền 18.158.941 đồng.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng việc vay nợ của các bên trên cơ sở tự nguyện, có hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật, trong thời gian thực hiện hợp đồng bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó Công ty tài chính khởi kiện yêu cầu bà T trả nợ là có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn có trách nhiệm trả số tiền 50.930.046 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là bà Trần Ngọc T có nơi cư trú tại thành phố X, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố X theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về xác lập hợp đồng vay tài sản
Xét văn bản đề nghị vay vốn khiêm Hợp đồng tín dụng số 20190916-0001234 ngày ngày 16/9/2019 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Về vốn và lãi vay
Căn cứ Văn bản đề nghị vay vốn khiêm Hợp đồng tín dụng số 20190916-0001234; Bảng kế hoạch trả nợ và Lịch sử thanh toán thì Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM cho bà T vay số tiền vay số tiền 40.000.000 đồng; lãi suất 3.75%/tháng; mục đích vay để tiêu dùng cá nhân theo hình thức vay tín chấp. Theo thỏa thuận bà T có trách nhiệm thanh toán số tiền 73.535.046 đồng gồm gốc và lãi, trả liên tiếp trong vòng 36 tháng, thời gian bắt đầu trả từ ngày 17/10/2019.
Qúa trình thực hiện hợp đồng, bà T đã nhận đủ số tiền tiêu dùng cá nhân và có thanh toán cho Công ty tài chính được 11 lần, số tiền 22.605.000 đồng. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã nhiều lần triệu tập bà T, đến làm việc và hòa giải, nghe xét xử, nhưng bà T vẫn không đến làm việc, mặc dù qua xác minh vẫn còn cư trú tại địa phương, vì vậy Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bà T. Do bà T không trả nợ sau ngày 15/8/2020 là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, cho nên, việc Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM yêu cầu bà T trả nợ số vốn và lãi còn lại theo Hợp đồng số tiền 50.930.046 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 xét chấp nhận. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.274.000 đồng. Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.546.502 đồng. [6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; các 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM (VPB SMBC FC). Buộc Trần Ngọc T có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM (VPB SMBC FC) số tiền 50.930.046 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm
Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM (VPB SMBC FC) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền 1.274.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002177 ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM (VPB SMBC FC).
Bà Trần Ngọc T phải chịu 2.546.502 (hai triệu, năm trăm bốn mươi sáu nghìn, năm trăm lẻ hai) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà Trần Ngọc T là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. X (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục Thi hành án DS TPCĐ (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Ngọc Hà |