vanban.org

Bản án 54/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T…

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S Buộc ông Sơn Sà Q có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Stổng số tiền là: 13.304.000 đồng (Mười ba triệu, ba trăm lẻ bốn nghìn đồng) (Trong đó tiền vốn gốc là 10.000.000 đ + tiền lãi quá hạn 3.304.000 đồng)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Sacom, Quách"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2022/DS-ST
Ngày: 29/9/2022
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Huy Tùng

2. Ông Trần Hoàng Việt

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 89/2022/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63B/2022/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2022/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S

Địa chỉ trụ sở chính: Số 266-268 N, Quận X, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D; chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Song T–Trưởng Phòng giao dịch T (Theo văn bản ủy quyền ngày 31/5/2021) (Có mặt).

Địa chỉ: Số 45 Quốc lộ N, ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh S.

*Bị đơn: Ông Sơn Sà Q, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 3 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) S trình bày:

Ngày 14/4/2018, ông Sơn Sà Q có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, loại thẻ Motor card (Hợp đồng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng).

- Hạn mức tín dụng là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng);

- Mục đích: Tiêu dùng cá nhân;

- Lãi suất trong hạn: 1,6%/tháng;

- Lãi suất quá hạn: 2,4%/tháng (1,6% x 150%);

- Thời hạn Hợp đồng: 03 năm (Từ 14/4/2018 – 14/4/2021). Thời hạn ghi trên

thẻ.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Sơn Sà Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.300.000 đồng.

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất ngân hàng được áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngoài ra, ông Sơn Sà Q còn phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Tính đến ngày 05/8/2021, ông Sà Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 26.900.000 đồng. Số tiền mà ông Sà Q đã trả bao gồm tiền phí 897.000 đồng, phí trễ hạn 400.000 đồng, phí vượt hạn mức 50.000 đồng, tiền lãi 6.256.378 đồng, tiền gốc 19.296.622 đồng. Tính đến ngày 05/8/2021, ông Sà Q đã trả đủ tiền phí, phí trễ hạn, phí vượt hạn mức và trả tiền gốc 19.296.622 đồng. Còn nợ lại tiền gốc 10.003.378 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Sà Q đã không thực hiện đúng như hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/8/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Sơn Sà Q phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2022 là 14.309.638 đồng (Bao gồm tiền gốc là 10.003.378 đồng và tiền lãi quá hạn là 4.306.260 đồng).

Và ông Sơn Sà Q phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 30/9/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn ông Sơn Sà Q không có lời trình bày do vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 90/TB-TLVA ngày 13 tháng 6 năm 2022, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Sơn Sà Q nhưng ông Sà Q không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông Sà Q để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Sà Q đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành mở phiên họp và đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đại diện nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã không thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đại diện nguyên đơn trình bày, Ngân hàng cho bị đơn vay số tiền gốc ban đầu là 10.000.000 đồng và số tiền gốc tăng lên từ 10.000.000 đồng lên 10.003.378 đồng là do cộng các các khoản phí, lãi, phí vượt hạn mức… thành nợ gốc. Tuy nhiên, theo các tài liệu có trong hồ sơ thì thời điểm ngày 05/8/2021, ông Sơn Sà Q không còn nợ các khoản này. Do nguyên đơn tính số nợ gốc không đúng và việc tính lãi cũng không đúng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Trong vụ án này, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Sơn Sà Q trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 29/9/2022 là 14.309.638 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán dứt nợ. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng".

Bị đơn ông Sơn Sà Q đã được triệu tập hợp lệ tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, đương sự có mặt và đại diện Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Ngày 14/4/2018, ông Sơn Sà Q có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng để vay của Ngân hàng TMCP S với số tiền vay là 10.000.000 với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Đại diện nguyên đơn trình bày tính đến ngày 05/8/2021, ông Sà Q còn nợ lại tiền gốc là 10.003.378 đồng. Lý do số tiền gốc tăng lên từ 10.000.000 đồng ban đầu lên 10.003.378 đồng theo đại diện nguyên đơn là do cách tính của Ngân hàng các khoản phí, lãi, phí vượt hạn mức, phí trễ hạn…cộng thành tiền gốc. Sau đó, khách hàng trả được bao nhiêu thì số tiền còn lại Ngân hàng xem là nợ gốc cho nên phát sinh nợ gốc vượt ra khỏi 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo bảng “Tóm tắt sao kê” do Ngân hàng lập ngày 29/9/2022 thì tính đến ngày 05/8/2021, ông Sơn Sà Q đã trả đủ tiền phí, phí trễ hạn, phí vượt hạn mức và tiền lãi. Đại diện nguyên đơn cho rằng tiền gốc từ 10.000.000 đồng ban đầu lên 10.003.378 đồng là do cộng lãi, phí, phí trễ hạn còn nợ…là không có căn cứ. Do đó, có căn cứ xác định ông Sơn Sà Q nợ số tiền gốc là 10.000.000 đồng. Số tiền này đã phát sinh lãi quá hạn từ ngày 06/8/2021. Tiền lãi được tính như sau:

Tiền lãi quá hạn từ ngày 06/8/2021 đến ngày 29/9/2022: 13 tháng 23 ngày với mức lãi suất 2,4 %/tháng:

10.000.000 đ x 2,4% x 13 + ((10.000.000 đ x 2,4%) : 30) x 23 = 3.304.000 đ.

Tổng cộng tiền gốc và lãi tính đến ngày 29/9/2022 là 13.304.000 đồng (10.000.000 đ + 3.304.000 đ).

Xét Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 14/4/2018 (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng) giữa Ngân hàng với ông Sơn Sà Q là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức nên căn cứ theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án công nhận Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng với ông Sơn Sà Q là hợp pháp.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Sơn Sà Q đã không thực hiện đúng như hợp đồng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Sơn Sà Q vẫn không có thiện chí trả nợ nên ngày 06/8/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Việc ông Sơn Sà Q không trả nợ gốc và lãi đúng hạn, không những vi phạm các điều khoản cam kết về nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng mà còn vi phạm các quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự và Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh S đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí theo khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S

+ Buộc ông Sơn Sà Q có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Stổng số tiền là: 13.304.000 đồng (Mười ba triệu, ba trăm lẻ bốn nghìn đồng) (Trong đó tiền vốn gốc là 10.000.000 đ + tiền lãi quá hạn 3.304.000 đồng).

+ Kể từ ngày 30/9/2022, ông Sơn Sà Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với số tiền 1.005.638 đồng (Một triệu, không trăm lẻ năm nghìn, sáu trăm ba mươi tám đồng) (14.309.638 đ –13.304.000 đ).

- Về án phí:

+ Ông Sơn Sà Q phải chịu 665.200 đồng (Sáu trăm sáu mươi lăm nghìn, hai trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Ngân hàng thương mại cổ phần Sphải chịu án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngân hàng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004022 ngày 31/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nộp đủ tiền án phí.

- Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn ông Sơn Sà Q được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh S xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 26 và 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ