vanban.org

Bản án 54/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K Buộc ông V.V.U phải thanh toán tiền nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng TMCP K với tổng số tiền gốc và lãi tổng cộng là 94.168.206 đồng (chín mươi bốn triệu, một trăm sáu mươi tám nghìn, hai trăm lẻ sáu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2022/DS-ST
Ngày 20/6/2022
V/v: “T/c hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Hùng;

2. Ông Nguyễn Thiện Pháp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 173/2021/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2021 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2022/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 106/2022/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K

Địa chỉ: Số 40-42-44, Phạm Hồng Thái, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện theo pháp luật: Bà T – Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đ – Giám đốc chi nhánh An Giang (Theo văn bản ủy quyền số 1418/QĐ-NHKL ngày 01/07/2020 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP K).

Người được ủy quyền lại: Bà L.P.Q, sinh năm 1982 – Phó phòng khách hàng cá nhân (Theo văn bản ủy quyền số 29/UQ-CNAG ngày 18/6/2022 của Giám đốc Ngân hàng TMCP K – chi nhánh An Giang). (Có mặt).

Địa chỉ: Số 21, 22a2 Lý Thái Tổ, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

* Bị đơn: Ông V.V.U, sinh năm 1974. (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Phú Hùng, xã Tây Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Tạm trú: ấp Phú Bình, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 08/11/2021 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn bà L.P.Q trình bày:

Giữa Ngân hàng TMCP K – chi nhánh An Giang (Ngân hàng) với ông V.V.U có ký giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kien Long Bank số: 263/19/BĐ/1200-5404 ngày 10/3/2019 với hạn mức tín dụng đề xuất là 30.000.000 đồng, loại thẻ: VISA CLASIC và JCB CLASIC, mục đích: tiêu dùng, thời hạn vay: 12 tháng, thời hạn sử dụng của thẻ tín dụng: 36 tháng, thời hạn thanh toán thẻ tín dụng: 01 tháng, lãi suất cho vay: 22%/năm, hình thức thanh toán: trả lãi hàng tháng, trả gốc hàng tháng.

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông U đã sử dụng hết hạn mức thẻ tín dụng, đến kỳ thanh toán ông U chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng theo đúng hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo đến ông U nhưng ông vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký.

Tạm tính đến ngày 28/10/2021, ông V.V.U còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 75.517.175 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Nguyên đơn – bà L.P.Q yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả số tiền nợ theo hợp đồng thẻ tín dụng nêu trên, tính đến ngày xét xử sơ thẩm 20/6/2022 với tổng số tiền còn nợ của 02 thẻ tín dụng là: 94.168.206 đồng. Trong đó:

- Thẻ JCB CLASIC: Vốn gốc còn lại là 20.000.000 đồng, lãi phát sinh còn lại là 14.212.603 đồng, phí phạt chậm trả còn lại là 19.256.428 đồng, phí vượt hạn mức còn lại là 7.394.973 đồng, lãi phát sinh còn lại là 99.000 đồng. Tổng cộng là 60.963.014 đồng.

- Thẻ VISA CLASIC: Vốn gốc là 10.000.000 đồng, lãi phát sinh còn lại là 7.088.219 đồng, phí phạt chậm trả còn lại là 15.461.390 đồng, phí phạt vượt hạn mức còn lại: 155.583 đồng, phí thường niên còn lại là 500.000 đồng. Tổng cộng là 33.205.192 đồng.

Yêu cầu Tòa án buộc ông U phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 21/6/2022 cho đến khi trả dứt điểm số nợ trên theo lãi suất quy định tại Hợp đồng thẻ tín dụng đã ký.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn đã thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông V.V.U (theo địa chỉ: ấp Phú Hùng, xã Tây Phú, huyện Thoại Sơn) nhưng không cấp, tống đạt trực tiếp được. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa chỉ nơi cư trú của ông U, kết quả xác minh của Công an xã An Bình, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thể hiện: tại thời điểm xác minh, ông V.V.U có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Phú Hùng, xã Tây Phú, huyện Thoại Sơn nhưng hiện nay đang tạm trú và sinh sống tại địa chỉ ấp Phú Bình, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Do vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn đều vắng mặt và không có lý do gì về việc vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai và hòa giải về nội dung tranh chấp trong vụ án.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã từ bỏ quyền của mình.

- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466 Bộ Luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn V.V.U trả cho Ngân hàng vốn gốc và lãi tính đến ngày 20/6/2022, tổng cộng 94.168.206 đồng. Tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ. Bị đơn nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về tố tụng:

Ngân hàng khởi kiện ông V.V.U có nơi tạm trú tại ấp Phú Bình, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông U (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông U.

Về nội dung vụ án:

Xét tính hợp pháp của giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kien Long Bank số: 263/19/BĐ/1200-5404 ngày 10/3/2019 và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kien Long Bank số: 263/19/BĐ/1200-5404 ngày 10/3/2019 giữa nguyên đơn và bị đơn có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, do hai bên tự nguyện giao kết nên hợp đồng này là hợp pháp. Do vậy, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, các bên phải có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, theo thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký, Ngân hàng đã cấp cho ông V.V.U thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, loại thẻ: VISA CLASIC và JCB CLASIC, mục đích: tiêu dùng, thời hạn vay: 12 tháng, thời hạn sử dụng của thẻ tín dụng: 36 tháng, thời hạn thanh toán thẻ tín dụng: 01 tháng, lãi suất cho vay: 22%/năm, hình thức thanh toán: trả lãi hàng tháng, trả gốc hàng tháng.

Về phía ông U sau khi được cấp thẻ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 30.000.000 đồng, cụ thể ngày 25/3/2019, ông U rút 20.000.000đồng và ngày 01/4/2019 ông U rút 10.000.000đ. Sau khi rút tiền, ông U đã không thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn của ông U đã vi phạm quy định của giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kien Long Bank và Bản điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ của Ngân hàng TMCP K. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông V.V.U phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc và lãi của hai thẻ tín dụng tính đến thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm, ngày 20/6/2022 là: 94.168.206 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 21/6/2022 cho đến khi trả dứt điểm số nợ trên theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký là có cơ sở. Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định của pháp luật tại các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ những phân tích và đánh giá trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 244, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 463, Điều 466 Bộ Luật dân sự năm 2015;

- Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K

Buộc ông V.V.U phải thanh toán tiền nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng TMCP K với tổng số tiền gốc và lãi tổng cộng là 94.168.206 đồng (chín mươi bốn triệu, một trăm sáu mươi tám nghìn, hai trăm lẻ sáu đồng).

Kể từ ngày 21/6/2022, ông V.V.U còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kien Long Bank số: 263/19/BĐ/1200-5404 ngày 10/3/2019. Trường hợp trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông V.V.U phải nộp 4.708.000đ (bốn triệu, bảy trăm lẻ tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K do Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền 1.888.000đ (một triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008618 ngày 14/12/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông U được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ