vanban.org

Bản án 54/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 30/03/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

H y toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 31 tháng 07 năm 2020 c a Toà án nhân dân tỉnh L.

Chuyển h sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh L để xét xử lại sơ thẩm vụ án theo quy định c a pháp luật. Về án phí: Các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nghĩa vụ chịu án phí c a các đương sự trong vụ án được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo th tục sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc di dời tài sản trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? H y toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 31 tháng 07 năm 2020 c a Toà án nhân dân tỉnh L.
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2022/DS-PT
Ngày: 30/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà;

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Minh Tuấn;

Ông Bùi Xuân Trọng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tú Anh, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 30 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 368/2020/TL-DSPT ngày 10 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc di d i tài sản trên đất và yêu c u h y giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo c a các đương sự và kháng nghị c a Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 31 tháng 07 năm 2020 c a Toà án nhân dân tỉnh L.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2067/2022/QĐXX-PT ngày 15 tháng 3 năm 2022 c a Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Cụ Mã Thế V cư trú tại: Số nhà 2 , ng 01, đư ng N, phư ng T, thành phố L, tỉnh L v ng m t

Ng i đ i di n h ủy uy n ủa nguyên đơn: Anh Mã Vân T1, cư trú tại: Số nhà 06, ng 01, đư ng N, phư ng T, thành phố L có m t

Bị đơn:

1. Bà Vạn Thị M tên khác: Hà Thị M);

Ng i đ i di n h ủy uy n ủa bà M: anh Vạn Văn H.

2. Anh Vạn Văn H tên khác: Hà H ng H

Chị Nông Thị T2;

Đều cư trú tại: Thôn P, xã T4, huyện T3, tỉnh L; có m t anh H, chị T2.

Ng i bảo v quy n và lợi ích hợp pháp của anh V n Văn H: Ông Đinh Anh T5, Luật sư công ty Luật hợp danh T6 địa chỉ: Phòng 1406 T1, tòa nhà T7 35 1, quận T8, thành phố H1;

Ng i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. y ban nhân dân sau đây viết t t là BND huyện T3, tỉnh L.

Ng i đ i di n h ủy uy n: Ông Bế Văn S, hó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trư ng huyện T3 Văn bản y quyền ngày 1 / /201 v ng m t

2. Cụ Hoàng Thị S1 cư trú tại: Số nhà 2 , ng 01, đư ng N, phư ng T, thành phố L, tỉnh L; v ng m t

3. Ông Mã Thế A cư trú tại: Số nhà 11 , đư ng L2, phư ng V1, thành phố L, tỉnh L; v ng m t

4. Ông Mã Văn D, cư trú tại: Ng 01, đư ng N, phư ng T, thành phố L, tỉnh L có m t

5. Anh Mã Vân T1, cư trú tại: Số nhà 06, ng 01, đư ng N, phư ng T, thành phố L, tỉnh L có m t

6 Bà Mã Thanh N1, cư trú tại: Số nhà , ng 6, đư ng B, khối 1, phư ng H2, thành phố L, tỉnh L có m t

Bà Mã Thanh H , cư trú tại: Số 2 2 đư ng A1, phư ng N2, quận T9, thành phố H1; có m t

Ng i đ i di n h ủy uy n của Cụ H ng hị S1, ông M h : anh Mã Vân T1, có m t.

8. Ông Lương Quân B1, cư trú tại: Thôn P, xã T4, huyện T3, tỉnh L; v ng m t

9. Bà Hoàng Thị H , cư trú tại: Thôn P, xã T4, huyện T3, tỉnh L; v ng m t

10. Ông Lương Trư ng G, cư trú tại: Thôn P, xã T4, huyện T3, tỉnh L; v ng m t

11. Ông Lương Văn S2, cư trú tại: Thôn P, xã T4, huyện T3, tỉnh L; v ng m t

12 Bà Lương Thị T10, cư trú tại: Thôn P, xã T4, huyện T3, tỉnh L; v ng m t

13. Chị Vạn Thị M1 (Hà Thị M1 cư trú tại: Thôn P, xã T4, huyện T3, tỉnh L; v ng m t

14. Bà Nguyễn Kim L3 địa chỉ: Số 6, ng , đư ng L4, phư ng T, thành phố L, tỉnh L; v ng m t.

15. Ông Nguyễn Văn T11 cư trú tại: Số , đư ng T12, phư ng T, thành phố L, tỉnh L; v ng m t.

16. Ông Mã Ngọc C cư trú tại: Số nhà 66, Tổ dân phố N4, phư ng Đ, thành phố T13, tỉnh T13; có m t.

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:

h đơn khởi ki n và các bản khai của nguyên đơn ông Mã Th V khởi ki n yêu cầu gia đình b Hà Thị M, anh V n Văn H, chị Nông Thị T2 chấm dứt tranh chấp và trả l i đấ

n b di n h đấ ranh hấ h gia đình ông Mã Th V để quản lý, sử dụng, gồm:01 thửa đất vư n, địa danh T15, diện tích 3.323m2; 01 thửa đất vư n đ i, địa danh Đ1, diện tích 11.225m2 và 03 thửa đất tr ng lúa, tổng diện tích 2.004m2 Đất có ngu n gốc là do năm 1 0 vợ ch ng cụ cố Trương Thị L mua và khai phá thêm, sau khi tan Hợp tác xã ông Mã Thế V chuyển về thành phố L sinh sống. Cuối năm 1 đ u năm 2000 do gia đình bà Vạn Thị M, anh Vạn Văn H (tên gọi khác là Hà H ng H) hoàn cảnh khó khăn nên ông đã giúp đ anh Vạn Văn H học nghề lái xe. Khi anh Vạn Văn H lấy vợ và làm nghề lái xe ô tô ông đ ng ý cho anh Vạn Văn H làm nhà tạm trên đất vư n T15 Năm 2001 ông Mã Thế V cho cháu họ là anh Mã Ch T16, chị Mã Thị M2 mượn đất sử dụng canh tác Năm 200 , bà Vạn Thị M tiếp tục sử dụng diện t ch đất tranh chấp đến nay Cùng năm 200 ông Mã Thế V làm th tục đăng ký kê khai và được UBND huyện T17 cấp 03 Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết t t GCNQSDĐ số V152783 ngày 22/6/2004 với diện tích 3.323m2 đất vư n), số V152782 cấp ngày 22/6/2004 diện tích 11.225m2 đất vư n đ i), số V158061 cấp ngày 30/9/2004 diện tích 2.004m2 đất tr ng lúa).

Năm 2006, anh Vạn Văn H tự ý xây dựng nhà kiên cố, làm nhà kho hàng, nhà bếp, khoan giếng nước trên đất không hỏi ông Mã Thế V Năm 201 thì gia đình bà Vạn Thị M, anh Vạn Văn H, chị Nông Thị T2 đã gửi đơn đến UBND xã T4 đề nghị xã không được cấp đổi GCNQSDĐ đối với các thửa đất trên cho ông nữa Tháng năm 201 , ông Lương Quân B1 đã xây dựng một b c tư ng ch n đất trên đất tranh chấp

Do đó, ông Mã Thế V khởi kiện yêu c u gia đình bà Hà Thị M, anh Vạn Văn H, chị Nông Thị T2 chấm d t tranh chấp và trả lại toàn bộ diện t ch đất tranh chấp cho gia đình ông Mã Thế V để quản lý, sử dụng. Ông Mã Thế V sẽ đền bù cho anh Vạn Văn H giá trị các tài sản trên đất theo giá Nhà nước g m: Nhà ở, nhà bếp, chu ng lợn, nhà vệ sinh, nhà kho (là các công trình ông Mã Thế V đ ng ý cho xây dựng). Các công trình giếng nước, nhà bếp mới xây không được sự đ ng ý c a ông Mã Thế V thì ông đề nghị không đền bù Đ ng th i, yêu c u ông Lương Quân B1 phải chấm d t tranh chấp, di d i b c tư ng ch n đất ra khỏi diện t ch đất c a gia đình ông Mã Thế V được cấp GCNQSDĐ

ị đơn anh V n Văn H (Hà Hồng H), trình bày: Các thửa đất tranh chấp nêu trên gia đình anh Vạn Văn H quản lý, sử dụng canh tác từ lâu; năm 1 khi chạy T u, gia đình bỏ không một th i gian, đến năm 1 - 1 gia đình anh tiếp tục canh tác tr ng hoa màu Năm 1 anh lập gia đình ra ở riêng trên mảnh đất vư n, địa danh T15 và làm nhà ở kiên cố, ổn định cuộc sống lâu dài, anh đã thuê máy i san lấp b hào rộng khoảng hơn 1m chạy dài theo đư ng quốc lộ và một số b bụi rậm rạp và khai phá d n sau đó tr ng cây ăn quả g m nhãn, xoài, trám và một số cây lâu năm lấy gỗ khác Năm 200 ông Mã Thế V g p anh nói đây là đất ông cha để lại chưa kê khai hết. Do có quan hệ họ hàng và năm 1 6 anh học lái xe có ở nh nhà ông Mã Thế V, vì tình cảm nên anh đ ng ý đưa GCNQSDĐ c a anh được y ban nhân dân huyện T17 cấp ngày 19/12/2001 cho ông Mã Thế V để đi kê khai và không biết ông Mã Thế V được cấp GCNQSDĐ th i gian nào.

Đối với thửa đất vư n đ i, địa danh Đ1, gia đình anh vẫn canh tác và tr ng hoa màu từ trước đến nay Năm 1 6, ông Nguyễn Văn Đ có sử dụng khu đất để làm m t bằng khai thác đá bán cho công trình làm đư ng 20 đến năm 1 anh Vạn Văn H bảo ông Nguyễn Văn Đ ngừng khai thác Sau đó một th i gian anh ký hợp đ ng với Hợp tác xã Thanh hương cùng khai thác, đến năm 2012 ký hợp đ ng với Đơn vị 2 khai thác đá khi hết hợp đ ng gia đình anh Vạn Văn H vẫn tiếp tục tr ng hoa màu trên đất.

Đối với 03 thửa đất tr ng lúa là đất do cha ông anh khai phá và canh tác từ trước những năm 1 60, sau đó gia đình anh đóng góp vào Hợp tác xã để canh tác; khi tan rã Hợp tác xã gia đình anh lấy lại tiếp tục quản lý, sử dụng.

Anh Vạn Văn H khẳng định các thửa đất đang tranh chấp là c a gia anh quản lý, sử dụng. Do vậy, anh Vạn Văn H không đ ng ý yêu c u khởi kiện c a ông Mã Thế V đòi lại các thửa đất trên; yêu c u Tòa án giải quyết h y các GCNQSDĐ c a hộ ông Mã Thế V đã được UBND huyện T17, tỉnh L cấp.

ị đơn hị Nông hị 2 rình b y: Năm 1 chị lấy anh Vạn Văn H (Hà H ng H và tách ra ở riêng trên khu đất T15 và quản lý, sử dụng các thửa đất đang tranh chấp từ đó đến nay nên chị đ ng quan điểm với ý kiến c a anh Vạn Văn H không đ ng ý yêu c u khởi kiện c a ông Mã Thế V.

ị đơn b H hị M (V n hị M) trình bày: Cụ cố Trương Thị L6 lấy 02 đ i ch ng ch ng trước là cụ Vạn Văn N5, sinh được 02 ngư i con là bà Vạn Thị Ý là mẹ đẻ c a bà Vạn Thị M) và bà Vạn Thị D đều đã chết ch ng sau là cụ Mã Hản 1, sinh được hai ngư i con trai là ông Mã Thế S đã chết và ông Mã Thế V. Bà Vạn Thị M là con gái c a cụ Vạn Thị T1 , sinh ra và lớn lên tại thôn P2, xã T4, huyện T17, tỉnh L Từ khi sinh ra và lớn lên bà Vạn Thị M trưởng thành và lập gia đình đã được tr ng hoa màu trên 0 thửa ruộng, đất vư n T15 và đất vư n đ i Đ1 Năm 1 gia đình bà Vạn Thị M có bỏ hoang một th i gian do phải chạy nạn trong C tranh biên giới Sau năm 1 -1 gia đình bà lên khai phá lại đất T15 và đất vư n đ i Đ1 để tr ng ngô, đỗ Th i điểm đó những thửa đất trên vẫn chưa khai phá hết Năm 1 , anh Vạn Văn H (Hà H ng H lập gia đình nên bà đã cho con lên làm nhà ở tại thửa đất T15 và làm nương trên đất vư n đ i Đ1 từ đó đến nay 0 thửa ruộng gia đình bà vẫn canh tác từ sau khi tan Hợp tác xã nên bà không đ ng ý yêu c u khởi kiện c a ông Mã Thế V.

Ng i

uy n ợi, nghĩa vụ iên uan ha gia ụng v i bên nguyên đơn b H ng hị S và các con: Có ý kiến trình bày như ông Mã Thế V và đ ng ý với yêu c u khởi kiện c a ông Mã Thế V.

Ng i

uy n ợi, nghĩa vụ iên uan ông L ơng Quân 1 v

h nh viên r ng gia đình ông L ơng Quân 1, rình b y: Diện t ch c a gia đình ông B1 nằm liền kề với đất nhà anh Vạn Văn H, giáp về ph a Nam anh giới đất giữa gia đình nhà ông Lương Quân B1 và gia đình anh Vạn Văn H có 02 cây xoan làm mốc giới h a đất c a gia đình anh Vạn Văn H ch yếu tr ng cây sưa, còn ph a gia đình nhà ông Lương Quân B1 thì chỉ tr ng cây ăn quả, cây mai, cây mạy pì

Gia đình ông Lương Quân B1 đã xây một b c tư ng rào, được sự nhất tr c a gia đình anh Vạn Văn H, ông Lương Quân B1 cho rằng ông chỉ xây dựng trên diện t ch đất c a gia đình, không xây lấn chiếm lên đất nhà anh Vạn Văn H, cũng là đất đang có tranh chấp hiện nay Do đó, đối với yêu c u khởi kiện c a ông Mã Thế V, ông Lương Quân B1 không nhất tr , đề nghị được quyền quản lý đối với toàn bộ diện t ch theo hiện trạng gia đình ông Lương Quân B1 đang sử dụng

Đ i di n y ban nhân dân huy n T3 rình b y: Năm 200 ông Mã Thế V có làm th tục kê khai đối với diện t ch đất vư n với diện t ch là 2 m2 đất vư n đ i 11 22 m2, sau khi thực hiện đ y đ các th tục theo Luật Đất đai, BND huyện T3 đã cấp GCNQSDĐ số phát hành V1 2 2, số vào sổ cấp giấy số 62/QSDĐ/61 QĐ- BND, cấp ngày 22/6/200 và số phát hành V1 2 , số vào sổ cấp giấy số 6 /QSDĐ/61 QĐ- BND, cấp ngày 22/6/200 Đ ng th i ông Mã Thế V được cấp GCNQSDĐ số phát hành V1 061, số vào sổ cấp giấy 00 66/QSDĐ, cấp ngày 0/ /200 g m các thửa số 11 diện t ch 60 m2, thửa 12 diện t ch 6 m2 và thửa số 1 diện t ch 2m2, thuộc t bản đ giải thửa số 2 số 0 xã T4 Việc cấp GCNQSDĐ nêu trên là đúng trình tự, th tục theo quy định c a pháp luật Do đó, việc anh Vạn Văn H yêu c u h y GCNQSDĐ là không có cơ sở

Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/02/201 và ngày 1 / /201 có m t các đương sự đã xác định được: Diện t ch đất tranh chấp g m 0 diện t ch đất, cụ thể:

1 Diện t ch đất được cấp GCNQSDĐ số V1 2 , ngày cấp 22/6/200 , vào sổ số 6 /QSDĐ/61 .QĐ-UBND, địa danh thôn T12, diện t ch

6,2m2 theo hiện trạng sử dụng bao g m cả diện t ch gia đình ông Lương Quân B1 đã xây dựng 01 b c tư ng ch n đất , có các cạnh tiếp giáp như sau:

- h a B c giáp đất c a ông Lương Quân B1 có chiều dài các cạnh cộng d n là 1,68m;

- h a Đông giáp đư ng bê tông, quốc lộ B có chiều dài các cạnh cộng d n là 0,42m;

- h a Tây giáp đất c a ông Nông Văn H có chiều dài cạnh cộng d n là 52,84m;

- h a Nam giáp đất ông Hoàng Văn H6, ông Vạn Văn H, có chiều dài các cạnh cộng d n là 6 ,57m;

Theo h sơ địa ch nh đo đạc năm 2012 xác định diện t ch đất tranh chấp g m 0 thửa: Thửa 55 diện tích 549,4m2 đất ở nông thôn); thửa 154 diện tích 877,9m2 đất tr ng cây lâu năm khác và thửa 69 diện tích 2.043,6m2 đất tr ng cây lâu năm khác), thuộc t bản đ địa chính số 10 xã T4, huyện T3.

Tài sản trên đất g m có nhà, công trình phụ, các loại cây, cụ thể:

- Nhà ch nh có diện t ch ,48m2, được xây dựng năm 1 và sửa chữa năm 2016

- Các công trình phụ g m: Nhà bếp diện t ch 2 ,01m2 hòng ở diện t ch 11,7m2 Nhà kho có diện t ch 10 ,12m2 hòng t m diện t ch 16m2 Sân láng vữa xi măng diện t ch ,55m2 Bể nước xây dựng năm 1 , dung t ch 4m3 Chu ng lợn diện t ch ,8m2 Chu ng gà diện t ch ,75m2 giếng khoan b n ch a nước bằng nox bể cây cảnh n p bê tông cốt thép theo đư ng vào nhà mái đua nhà ch nh, lợp sân cột bê tông cốt thép tư ng vây sân 01 b c tư ng ch n đất bằng gạch ba banh 1 ,3m3 đất đổ đ p.

- Các loại cây trên đất: cây mác mật: 0 cây trong đó 0 cây đư ng k nh từ 0 - 10cm 0 cây đư ng k nh 10cm cây khế: 01 cây đư ng k nh từ 10 - 15cm cây gỗ sưa: 1 cây trong đó có 10 cây đư ng k nh gốc từ 0 - 10cm cây từ trên 10 - 20cm 10 cây nhỏ hơn 05cm 0 cây đư ng k nh từ 15cm cây xoài: 0 cây g m 02 cây đư ng k nh 0 - 10cm 01 cây từ 10 - 1 cm 02 cây từ 02 - 05cm cây m t: 02 cây, đư ng k nh từ 10 - 20cm; cây ổi: 02 cây đư ng k nh từ 0 - 10cm cây nhót tây: 01 cây đư ng k nh 10 - 15cm cây trám: 0 cây g m 02 cây đư ng k nh từ 0 - 10cm 0 cây đư ng k nh 10 - 15cm 02 cây đư ng k nh từ 10 - 20cm cây nhãn: 0 cây, trong đó 02 cây đư ng k nh từ 02 - 05cm 01 cây từ 10 - 15cm cây xoan: 16 cây đư ng k nh 10 - 20cm có 01 cây từ 20 - 0cm có 0 cây 0 cây đư ng k nh 0cm cây chuối hơn 01 năm tuổi có cây cây chuối tiêu dưới 01 năm có 01 cây cây chanh: 0 cây đư ng k nh gốc nhỏ hơn 05cm cây quất: 01 cây đư ng k nh gốc nhỏ hơn 05cm cây nhót ta: 01 cây đư ng k nh gốc nhỏ hơn 05cm 02 cây đào có đư ng k nh 10cm 10 cây đào mới tr ng 20 khóm gừng 02 khóm cây sả

Tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản g n liền với đất: Giá trị quyền sử dụng đất là 00 000đ ng/m2. Tổng trị giá thửa đất là 1 000 60 000đ ng giá trị các công trình trên đất là 2 06 100đ ng trị giá cây tr ng trên đất là 39.743.500đ ng. Tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là 1.040.603.500đ ng.

2 Diện t ch đất được cấp GCNQSDĐ số phát hành V152782, số vào sổ cấp giấy 62/QSDĐ/61 QĐ-UBND cấp ngày 22/6/2004, diện tích 11.225m2, theo bản đ địa chính thuộc thửa số 265, diện tích 10.226,8m2, t bản đ địa chính số 11 xã T4 địa danh khu Đ n Đ n, có các cạnh tiếp giáp:

- h a Đông giáp với đư ng bê tông liên thôn

- h a Tây giáp với thửa đất số 2 t bản đ số 11 năm 2012

- h a Nam giáp với đất lâm nghiệp

- h a B c giáp thửa đất số 2 , 226, 22 , 22 , 22 , 21 , 1 , 1 do các hộ gia đình, cá nhân đang quản lý sử dụng

Tài sản trên đất g m có: 02 cây lát cây bạch đàn 1 cây mạy pì

Giá quyền sử dụng đất tranh chấp là 2 000đ ng/m2, trị giá là 429.526.600đ ng; trị giá cây trên đất là 21 00đ ng Tổng giá trị đất và cây là 433.744.100đ ng.

Diện t ch đất được cấp GCNQSDĐ số phát hành V158061, số vào sổ cấp giấy số 00466/QSDĐ, cấp ngày 0/ /200 đất lúa , g m 03 thửa:

- Thửa số 311, diện tích 604m2 đo đạc thành thửa số 155, diện tích 503,5m2), t bản đ địa chính số 22, xã T4, huyện T17 Giá trị quyền sử dụng đất là 000đ ng/m2, trị giá 2 16 000đ ng.

- Thửa số 312, diện tích 648m2 đo đạc thành thửa số 144, diện tích 597,0m2), t bản đ địa chính số 22, xã T4, huyện T17 Giá quyền sử dụng đất tranh chấp là 000đ ng/m2, trị giá 2 6 6 000đ ng.

- Thửa số 314, diện tích 752m2 đo đạc thành thửa số 38, diện tích 782,0m2), t bản đ địa chính số 23, xã T4, huyện T17 Giá quyền sử dụng đất tranh chấp là 000đ ng/m2, trị giá

6 000đ ng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2018/DS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2018 c a Toà án nhân dân tỉnh L đã chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện c a ông Mã Thế V

Giao cho ông V được quyền sử dụng 10.226,8m2 đất tr ng cây lâu năm tại t bản đ địa chính xã T4; 03 thửa đất lúa (nằm tại các thửa 311, 312 và 314); quản lý sử dụng một ph n đất vư n và nhà ở diện tích 2.870,4m2 tại địa danh thôn T15.

Giao cho anh Vạn Văn H, bà Hà Thị M, chị Nông Thị T2 được quyền quản lý 465,7m2 trên đất có nhà, nhà kho.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên h y một ph n giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, buộc ông Lương Quân B1 phải di d i b c tư ng ch n đất bằng gạch ba banh và quyết định việc ông V phải thanh toán giá trị tài sản trên đất cho anh H, chị T2.

Sau khi xét xử sơ thẩm cả nguyên đơn, bị đơn và một số ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 153/201 /DS T ngày 0 tháng 10 năm 2019 c a Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định h y bản án sơ thẩm; chuyển h sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh L để xét xử sơ thẩm lại với lý do: đất tranh chấp có ngu n gốc là đất thừa kế, ngư i thừa kế chưa cung cấp được các tài liệu thể hiện các đ ng thừa kế c a cố L6 đ ng ý nhượng ph n quyền thừa kế quyền sử dụng đất mà họ được hưởng cho cụ V? Cụ V căn c vào giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất để yêu c u gia đình bà M phải trả đất nhưng các thửa đất cụ V được cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất có ngu n gốc được hưởng thừa kế và có liên quan đến các thừa kế khác. Tòa án cấp sơ thẩm chưa lấy l i khai c a những đ ng thừa kế để xem xét ý chí c a họ có như ng ph n quyền thừa kế c a họ cho cụ V toàn quyền định đoạt và đ ng tên trên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất hay không mà chỉ căn c vào giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đ ng tên cụ V để công nhận quyền sử dụng các thửa đất tranh chấp cho cụ V là chưa đ căn c làm ảnh hưởng đến quyền lợi c a các đ ng thừa kế khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 31 tháng 07 năm 2020 c a Toà án nhân dân tỉnh L đã quyết định:

Căn c vào Điều 100, Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 201 Điều 166, Điều , Điều 468, 609, 618, 620, 623, 649, 650, 651, 652, 653, 660 Bộ luật Dân sự 2015; khoản Điều 26, điều 39, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 2 1, Điều 273 c a Bộ luật Tố tụng dân sự Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, điểm a khoản Điều 27 c a Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a y ban Thư ng vụ Quốc hội.

I. Về quyền sử dụng đất: Không chấp nhận yêu c u khởi kiện c a ông Mã Thế V, về việc yêu c u gia đình bà Hà Thị M, anh Vạn Văn H, chị Nông Thị T2 phải chấm d t tranh chấp và trả lại đất toàn bộ diện t ch đất tranh chấp theo Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số V1 2 2 cấp ngày 22/6/200 , diện tích 11.225m2; Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số V152783 cấp ngày 22/6/200 , diện tích 3.323m2; Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số V1 061 cấp ngày 30/9/2004, diện tích 2.004m2 c a gia đình ông Mã Thế V; không chấp nhận yêu c u c a ông Mã Thế V về việc chấp nhận đền bù cho anh Vạn Văn H giá trị các tài sản trên đất theo giá Nhà nước g m: Nhà ở, nhà bếp, chu ng lợn, nhà vệ sinh, nhà kho (là các công trình ông Mã Thế V đ ng ý cho vợ ch ng anh Vạn Văn H xây dựng); các công trình giếng nước, nhà bếp mới xây không được sự đ ng ý c a ông Mã Thế V), thì ông Mã Thế V không đền bù.

II. Chấp nhận yêu c u phản tố c a bà Vạn Thị M, anh Vạn Văn H, chị Nông Thị T2 về việc công nhận các thửa đất đang tranh chấp là di sản thừa kế c a cụ Trương Thị L6 (chết để lại chưa chia thừa kế, để chia thừa kế theo pháp luật, cụ thể:

1 Đối với thửa đất tranh chấp diện tích 3.336,1m2, g m các thửa đất số 1 , 1 6, 1 được tr ch đo từ các thửa 55, 69 và 154 cùng trong một khu đất, g m diện t ch đất S1 = 465,7m2; S2 = 465,7m2; S3 = 2.265,4m2 và 139,3m2 gia đình ông Lương Quân B1 xây dựng lấn chiếm địa danh: T15, thôn P2, xã T4, huyện T17, tỉnh L.

1.1. Chia cho ông Mã Thế V được quyền quản lý sử dụng diện tích S1 = 465,7m2; S3 = 2.265,4m2 và 139,3m2 gia đình ông Lương Quân B1 xây dựng lấn chiếm. Tổng cộng là 2.870,4m2 đất có các cạnh tiếp giáp như sau: h a B c giáp đất c a ông Lương Quân B1, có chiều dài các điểm đến 6 là 1,6 m h a Đông giáp đư ng bê tông, quốc lộ B, chiều dài các điểm 6, 5, 4, 14 là 34,34m, chiều dài các điểm 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24 là 91,28m và chiều dài các điểm 1, 2, 2 là 2 , m h a Tây giáp đất c a ông Nông Văn H ; chiều dài các điểm 7, 8, 9, 10, 11 là 2, m h a Nam giáp đất ông Hoàng Văn H6, ông Hà H ng H, chiều dài các điểm 11, 12, 1 , 1 là 6 ,57m. Và quyền sở hữu toàn bộ cây do anh Vạn Văn H và ông Lương Quân B1 tr ng trên đất, g m: 1 cây sưa, trong đó có 10 cây đư ng k nh gốc từ 0 - 10cm 0 cây từ trên 10 - 20cm 10 cây nhỏ hơn 05cm; cây xoài: 0 cây, g m 02 cây đư ng k nh 0 - 10cm 01 cây từ 10 - 15cm; 02 cây từ 02 - 05cm cây m t: 02 cây, đư ng k nh từ 10 - 20cm cây ổi: 02 cây đư ng k nh từ 0 - 10cm cây nhót tây: 01 cây đư ng k nh 10 - 15cm cây trám: 0 cây đư ng k nh từ 0 - 10cm có 02 cây 0 cây có đư ng k nh 10 - 15cm 02 cây từ 10 - 20cm cây nhãn: 0 cây, trong đó 02 cây đư ng k nh từ 02 - 5cm 01 cây từ 10 - 15cm cây mác mật: 01 cây đư ng k nh từ 0 - 10cm cây khế: 01 cây đư ng k nh từ 10 - 15cm cây xoan: 11 cây đư ng k nh 10 - 20cm, có 0 cây cây đư ng k nh từ 20 - 0cm 0 cây đư ng k nh 0cm cây chuối: cây hơn 01 năm tuổi 01 cây chuối tiêu dưới 01 năm cây chanh: 0 cây đư ng k nh gốc nhỏ hơn 05cm cây quất: 01 cây đư ng k nh gốc nhỏ hơn 05cm cây nhót ta: 01 cây đư ng k nh gốc nhỏ hơn 05cm 02 cây xoan đư ng kính gốc 40cm 01 cây đào có đư ng k nh 10cm 10 cây đào mới tr ng mác mật 0 cây đư ng kính gốc 10cm 10 khóm gừng 01 khóm cây sả cây sưa 0 cây đư ng kính gốc 15cm.

1.2. Chia cho anh Vạn Văn H và chị Nông Thị T2 được quyền quản lý sử dụng diện t ch đất S2 = 465,7m2, tương ng với giá trị quyền sử dụng đất là 139.710.000đ ng (một trăm ba mươi ch n triệu bẩy trăm mư i nghìn đ ng đất có các điểm tiếp giáp sau: Từ điểm 1 đến 15 cạnh dài 2 m 1 đến 16 cạnh dài 6,01m 16 đến 17 cạnh dài là 6, 0m 1 đến 18 cạnh dài 1, m 1 đến 19 cạnh dài , m 1 đến 20 cạnh dài là ,02m 20 đến 21 cạnh dài 2, m 21 đến 22 cạnh dài , m 22 đến 23 cạnh dài là 2, 0m 2 đến 24 cạnh dài 1 , m 2 đến 03 cạnh dài , m 0 đến 14 cạnh dài , 0m các điểm cạnh từ 14, 15, 16, 17, 1 , 1 , 20, 21, 22, 2 , 2 xung quanh giáp đất ông Mã Thế V; cạnh từ 24, 3, 14 giáp đư ng quốc lộ 3B) và sở hữu toàn bộ tài sản là nhà ở, nhà kho, các công trình phụ trợ khác do anh Vạn Văn H xây dựng, trên đất có 02 cây sưa

1.3. Ông Mã Thế V có nghĩa vụ phải trả tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất được hưởng: Trả bà Vạn Thị M số tiền 333.620.000đ ng ba trăm ba mươi ba triệu sáu trăm hai mươi nghìn đ ng); trả anh Vạn Văn H và chị Nông Thị T2 số tiền 182.044.500đ ng (một trăm tám mươi hai triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm đ ng , trong đó giá trị quyền sử dụng đất là 139.910.000đ ng, giá trị tiền sở hữu cây là 2 1 00 đ ng; trả cho ông Lương Quân B1 số tiền giá trị sở hữu cây và công đổ đất là 4.055.300đ ng (bốn triệu không trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm đ ng).

1.4. Bác yêu c u đòi quyền quản lý sử dụng diện t ch đất 139,3m2 c a gia đình ông Lương Quân B1 do xây dựng lấn chiếm. Buộc gia đình ông Lương Quân B1 phải chấm d t việc tranh chấp quyền sử dụng đất 139,3m2 đối với gia đình ông Mã Thế V và có nghĩa vụ phải di d i b c tư ng gạch ba banh, diện tích là 52,5m2 đi nơi khác, trả lại quyền sử dụng đất cho ông Mã Thế V; b c tư ng trị giá 17.728.000đ ng mư i bẩy triệu bẩy trăm hai mươi tám nghìn đ ng).

(Thửa đấ

r h đ sơ họa chi ti t kèm theo).

2 Đối với thửa đất tranh chấp diện t ch đo thực tế là 11.225m2, theo bản đ địa chính diện tích 10.226,8m2, thuộc thửa 265, t bản đ địa chính số 11 xã Chi hương địa danh: Đ1, thôn H6, xã T4, huyện T17, tỉnh L

2.1. Chia cho anh Vạn Văn H và chị Nông Thị T2 được quyền quản lý, sử dụng, toàn bộ thửa đất và quyền sở hữu các cây tr ng trên đất; trị giá đất là 429.526.600đ ng (bốn trăm hai mươi ch n triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm đ ng) và trị giá cây trên đất là 4.217.500đ ng (bốn triệu hai trăm mư i bẩy nghìn năm trăm đ ng).

2.2. Anh Vạn Văn H và Chị Nông Thị T2 có nghĩa vụ phải trả ông Mã Thế V số tiền giá trị quyền sử dụng đất được hưởng là 143.175.000đ ng (một trăm bốn mươi ba triệu một trăm bẩy mươi lăm nghìn đ ng).

2.3. Trả bà Vạn Thị M số tiền 143.175.000đ ng (một trăm bốn mươi ba triệu một trăm bẩy mươi lăm nghìn đ ng).

(Thửa đấ

r h đ sơ họa kèm theo).

Đối với 03 thửa đất ruộng lúa:

3.1. Chia cho bà Vạn Thị M được quyền quản lý, sử dụng 03 thửa đất lúa, g m: Thửa số 311, diện tích 604m2 đo đạc thành thửa số 155, diện tích 503,5m2), t bản đ địa chính số 22, xã T4, huyện T17, trị giá đất là 2 16 000,đ Thửa số 312, diện tích 648m2 đo đạc thành thửa số 144, diện tích 597,0m2), t bản đ địa chính số 22, xã T4, huyện T17, trị giá đất là 2 6 6 000,đ Thửa số 314, diện tích 752m2 đo đạc thành thửa số 38, diện tích 782,0m2), t bản đ địa chính số 23, xã T4, huyện T17, trị giá đất là

6 000,đ Tổng trị giá 03 thửa đất là: 90.360.000đ ng ch n mươi triệu ba trăm sáu mươi nghìn đ ng).

3.2. Bà Vạn Thị M có nghĩa vụ phải trả cho ông Mã Thế V 1/2 giá trị quyền sử dụng đất được chia là 45.180.000đ ng (bốn mươi lăm triệu một trăm tám mươi nghìn đ ng).

4. Về yêu c u h y Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất: Tuyên h y 03 Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất c a y ban nhân dân huyện T17, tỉnh L đã cấp cho ông Mã Thế V, g m: Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số V1 2 2, cấp ngày 22/6/200 , diện tích 11.225m2; Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số V1 2 , cấp ngày 22/6/200 , diện tích 3.323m2; Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số V1 061, cấp ngày 0/ /200 , đối với 03 thửa đất lúa, diện tích 2.004m2.

Khi Bản án dân sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, các đương sự được chia thừa kế là quyền sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định c a pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.

Ngày 10/8/2020, bà Vạn Thị M kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm: chia cho bà di sản thừa kế bằng đất tại khu vực T15; thửa đất khu Đ1 đề nghị chia cho các thừa kế, ph n c a bà được nhận bằng đất đối với 03 thửa ruộng đề nghị công nhận là tài sản riêng c a bà, không phải di sản thừa kế c a cụ Trương Thị L6.

Ngày 11/8/2020, anh Vạn Văn H và chị Nông Thị T2 kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm chia cho vợ ch ng anh chị diện t ch đất tại khu T15 tương x ng với công s c khai hoang mở rộng c a vợ ch ng anh chị; Về ph n đất di sản c a cụ L6 giao cho vợ ch ng anh chị nhận toàn bộ diện t ch đất, anh chị có trách nhiệm trả ph n c a ông Vinh bằng tiền Đối với đất khu Đ1 đề nghị được nhận bằng đất.

Ngày 14/8/2020, nguyên đơn là cụ Mã Thế V và những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ ng về ph a nguyên đơn g m ông Mã Văn D, cụ Hoàng Thị S, bà Mã Thanh N5, bà Mã Thanh H3, ông Mã Vân T7, ông Mã Thế A kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm:

- Không chấp nhận h y 03 sổ đỏ thửa đất T15, K và B3;

- Đề nghị chia di sản thừa kế c a cụ Trương Thị L6 với ch ng trước; h y bản án sơ thẩm để xét xử lại;

- Chia di sản thừa kế thành 04 kỷ ph n cho cụ Mã Thế V, bà Vạn Thị M, bà Vạn Thị D và ông Mã Thế S4;

- Không chấp nhận công chăm sóc bảo quản trả bằng đất, đề nghị tính giá trị bằng tiền.

- Không chấp nhận hỗ trợ công trình xây dựng, cây tr ng không được sự cho phép.

Ngày 13/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L kháng nghị đề nghị sửa bản án sơ thẩm do xác định thiếu quan hệ pháp luật; bản án sơ thẩm không nhận định hàng thừa kế, cách phân chia di sản, kỷ ph n đương sự được hưởng; việc chia thừa kế chưa đảm bảo theo quy định c a Bộ luật Dân sự 201 chưa xem xét công s c, quản lý di sản c a bà M, công tôn tạo di sản c a vợ ch ng anh H, chị T2.

Ngày 18/8/2020, ông Mã Ngọc C kháng cáo đề nghị thu h i toàn bộ giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất mà ông Mã Thế V được cấp liên quan đến các thửa đất là di sản thừa kế c a cụ L6 để lại; đề nghị Tòa án chia cho ông kỷ ph n thừa kế c a ông bà nội để lại theo quy định c a pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự không bổ sung thêm tài liệu ch ng c nào khác và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu c u khởi kiện; ngư i đại diện theo y quyền c a nguyên đơn đề nghị h y bản án sơ thẩm để điều tra xác minh lại tài sản để chia thừa kế theo quy định c a pháp luật; Các đương sự kháng cáo khác giữ nguyên yêu c u kháng cáo.

Ông Mã Ngọc C cho rằng ông từ chối tham gia tố tụng do Tòa án giải thích đất đã đ ng tên cụ V trong giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất nên ông không có quyền lợi gì.

Ngư i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định rõ các tài sản tranh chấp là di sản, ch yếu là thửa đất ở T15;

- Chưa xác định rõ công s c trông nom, bảo quản di sản c a bị đơn khi chia di sản. Cụ thể đối với thửa đất ở T15 chỉ được chia tương đương 1 , % diện tích thửa đất là không bảo đảm quyền lợi.

- Không chia di sản cho các đ ng thừa kế bằng hiện vật đối với thửa đất ở khu T15. Cụ thể là ông V được nhận đất còn bà M thì chỉ được nhận tiền là không đúng với nguyện vọng c a phía bị đơn là không phù hợp theo quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015.

Đề nghị HĐXX xác định cụ cố L6 là ngư i duy nhất thừa hưởng di sản thừa kế từ 02 ngư i ch ng đã mất; chấp nhận việc vợ ch ng ông H là ngư i có công s c khai phá thửa đất ở khu T15 Xác định ông Mã Ngọc C đã từ chối thừa kế để bác kháng cáo c a ông C giống như trư ng hợp bà L và ông T12 đề nghị chia ph n đất c a bà M, anh H cạnh nhau cho thuận tiện trong việc t ng cho.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định kháng nghị c a Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L, có quan điểm thể hiện: Bản án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc di d i tài sản trên đất và yêu c u h y giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất là thiếu quan hệ pháp luật; ông Lương Quân B1 là ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu c u độc lập nhưng Bản án sơ thẩm xử quyết định bác yêu c u độc lập c a ông Lương Quân B1 là không chính xác.

Về nội dung vụ án: Sau khi xem xét các tài liệu có trong h sơ vụ án và kết quả y thác thu thập ch ng c c a Tòa án nhân dân tỉnh L thấy xuất hiện thêm tình tiết mới c a vụ án, Bản án sơ thẩm xác định hàng thừa kế và chia ph n di sản thừa kế không chính xác nên nội dung kháng nghị c a Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L là có cơ sở.

Từ những phân t ch trên, đề nghị HĐXX căn c khoản Điều 0 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận kháng nghị c a Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L, h y bản án sơ thẩm để trả h sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo đúng quy định c a pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn c tài liệu ch ng c có trong h sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đ y đ toàn diện ch ng c , ý kiến c a Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, ngư i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự và các bên đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đ ng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

. Về th tục tố tụng:

. Những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là y ban nhân dân huyện T17, tỉnh L, ông Lương Quân B1, bà Nguyễn Kim L3, ông Nguyễn Văn T11 đã được triệu tập hợp lệ đến l n th 2 nhưng v ng m t không phải vì sự kiện bất khả kháng ho c trở ngại khách quan nên Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử v ng m t họ theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

. Sau khi bản án dân sự sơ thẩm số 16/2018/DS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2018 c a Toà án nhân dân tỉnh L về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội h y theo trình tự phúc thẩm, giao h sơ về Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo quy định c a pháp luật. Ngày 22 tháng 01 năm 2020, cụ Mã Thế V và cụ Hoàng Thị S có đơn khởi kiện đề nghị công nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện t ch đất đã được cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất tại T15, B3 và K; đề nghị giao toàn bộ diện t ch đất tranh chấp cho cụ được sử dụng, chấp nhận b i thư ng các công trình vật kiến trúc đã xây.

Ngày 04/3/2020, anh Vạn Văn H có đơn yêu c u phản tố đề nghị: Tuyên giao dịch trả lại tài sản cho mượn là thửa đất diện tích 3.323m2 tại T15 vô hiệu do bị lừa dối, yêu c u y ban nhân dân huyện T17 thu h i 03 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Vinh; buộc y ban nhân dân huyện T17 cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình anh Hải.

Ngày 04/6/2020, Tòa án nhân dân tỉnh L có quyết định đưa vụ án ra xét xử và xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc tháo d , di d i tài sản trên đất và yêu c u h y giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất” ấn định xét xử vụ án vào ngày 23/6/2019 và quyết định hoãn phiên tòa do v ng m t bị đơn, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và ngư i bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn

Ngày 24/7/2020, bà Vạn Thị M có văn bản được xác định là yêu c u phản tố đề nghị chia di sản thừa kế c a cố L6 và xem xét công s c khai hoang và trông nom bảo quản di sản c a vợ ch ng anh H, chị T2.

Về quyền yêu c u phản tố c a bị đơn được quy định tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự, theo đó: 1. Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến c a mình đối với yêu c u c a nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu c u phản tố đối với nguyên đơn… Bị đơn có quyền đưa ra yêu c u phản tố trước th i điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ng c và hòa giải; Th tục yêu c u phản tố được thực hiện theo quy định c a Bộ luật Tố tụng dân sự về th tục khởi kiện c a nguyên đơn Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự).

Như vậy sau khi vụ án được thụ lý để xét xử lại theo th tục sơ thẩm, cả cụ Mã Thế V và cụ Hoàng Thị S cùng có đơn khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm xác định cụ V là nguyên đơn, cụ Hoàng Thị S là ngư i có quyền lợi liên quan là xác định sai tư cách tố tụng c a cụ S; thụ lý yêu c u phản tố sau khi mở phiên tòa nhưng không thông báo về việc thụ lý yêu c u phản tố cho Viện kiểm sát, các đương sự biết để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự đó là có ý kiến bằng văn bản đối với yêu c u phản tố và nộp các tài liệu ch ng c để bảo vệ quyền lợi cho mình. Dẫn đến xác định thiếu quan hệ pháp luật tranh chấp nguyên đơn cụ Mã Thế V kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu ngư i được hưởng thừa kế, ông Mã Ngọc C là con ông Mã Thế S4 kháng cáo đề nghị được hưởng di sản thừa kế.

. Xét kháng cáo c a cụ Mã Thế V và ông Mã Ngọc C, Hội đ ng xét xử thấy:

Cố Trương Thị L6 sinh năm 1 chết năm 1 6 lấy 02 đ i ch ng: Ch ng đ u là cố Vạn Văn N5, sinh được 02 ngư i con là cụ Vạn Thị T18 (là mẹ đẻ bà Vạn Thị M) và cụ Vạn Thị D (02 cụ đều đã chết); cụ Dùng sinh được 2 ngư i con là Nguyễn Kim L3 và Nguyễn Văn T11; ch ng th hai là cố Mã Hản P1 sinh năm 1 0 chết năm 1 62 , sinh được hai ngư i con là cụ Mã Thế S4 đã chết, có con nuôi là ông Mã Ngọc C) và cụ Mã Thế V.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định hàng thừa kế th nhất c a cụ Trương Thị L6, g m: cụ Vạn Thị D đã chết , ngư i thừa kế quyền và nghĩa vụ c a cụ Vạn Thị D là bà Nguyễn Kim L3 và ông Nguyễn Văn T11 từ chối nhận di sản; cụ Mã Thế S4 đã chết , ngư i thừa kế quyền và nghĩa vụ c a cụ Mã Thế S4 là ông Mã Ngọc C (con nuôi) không yêu c u chia di sản thừa kế; cụ Vạn Thị T18 đã chết), ngư i thừa kế quyền và nghĩa vụ c a cụ Vạn Thị T18 là bà Vạn Thị M và cụ Mã Thế V. Xác định hàng thừa kế th nhất c a cố Trương Thị L6 là cụ Mã Thế V và bà Vạn Thị M là chưa ch nh xác Bởi: Quá trình giải quyết vụ án “Tranh chấp đất đai” theo yêu c u khởi kiện c a nguyên đơn cụ Mã Thế V, ngày 19/5/2020 Tòa án nhân dân tỉnh L đã lập biên bản lấy l i khai c a đương sự bà Nguyễn Kim L3 và ông Nguyễn Văn T11 (BL 877, 878) để làm rõ tài sản thừa kế c a cố Trương Thị L6. Nội dung biên bản thể hiện bà Lân, ông T11 từ chối không nhận tài sản c a mẹ là cụ Vạn Thị D, từ chối tham gia tố tụng, đề nghị Tòa án không triệu tập vì không có liên quan; cùng ngày 19/5/2020 Tòa án nhân dân tỉnh L nhận được giấy xác nhận c a bà Lân, ông T11 đề ngày 06/5/2020 (BL 879) trình bày quan điểm về tài sản, ruộng vư n c a cố Trương Thị L6 và Mã Hản P1 để lại: nếu còn th i hiệu chia thừa kế thì suất thừa kế c a mẹ Vạn Thị D được chia, hai chị em thống nhất cho cụ Mã Thế V toàn quyền sử dụng (hai chị em không lấy) Như vậy có sự mâu thuẫn, không thống nhất trong ý kiến đề nghị giải quyết về quyền lợi c a bà L5, ông T11 nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm làm rõ; việc không thông báo yêu c u phản tố cũng như hỏi ý kiến c a bà D2, ông T11 sau khi bà M có yêu c u phản tố đề nghị chia di sản thừa kế là thiếu sót. Tại đơn đề nghị ngày 05/12/2021, bà Nguyễn Kim L3 đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật.

Ông Mã Ngọc C được cụ Mã Thế S4 nhận là con nuôi từ nhỏ, được cụ Sinh nuôi nấng và coi như con đẻ được cả gia đình thừa nhận nên được xác định là ngư i thừa kế c a cụ Mã Thế S4. Quá trình giải quyết vụ án “Tranh chấp đất đai” theo yêu c u khởi kiện c a nguyên đơn cụ Mã Thế V, ngày 28/5/2020 ông C được Tòa án triệu tập lấy l i khai (BL 883) để làm rõ tài sản thừa kế, nội dung biên bản thể hiện ông C không có ý kiến gì về việc tranh chấp giữa cụ V với bà M, anh H, không yêu c u giải quyết quyền lợi trong vụ án này, đề nghị Tòa giải quyết theo quy định c a pháp luật và từ chối tham gia tố tụng Đến ngày 24/7/2020 bà M có yêu c u phản tố, Tòa án cấp sơ thẩm không thông báo cho ông C việc bị đơn yêu c u phản tố đề nghị chia di sản thừa kế, không lấy l i khai để làm rõ ông C có yêu c u về quyền lợi trong trư ng hợp Tòa án chia di sản thừa kế không; Việc ông C không có tranh chấp và đề nghị giải quyết theo quy định c a pháp luật khi giải quyết quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” không đ ng nghĩa với việc từ chối nhận di sản thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông C không yêu c u chia di sản thừa kế dẫn đến việc xác định thiếu ngư i được hưởng thừa kế, vi phạm nghiêm trong th tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp c a ông C.

. Về nội dung:

. Về ngu n gốc đất: Tài liệu, ch ng c trong h sơ thể hiện Cố L6 có hai đ i ch ng, ch ng đ u là cố Vạn Văn N5 và ch ng th hai là cố Mã Hản P1.

Ngư i đại diện theo y quyền c a cụ Mã Thế V là anh Mã Vân T4 (BL 62 xác định: trong diện t ch đất tranh chấp có một ph n đất khoảng 2.880m2 do cố P1 khai phá, sau đó cố L6 và cố P1 có mua thêm c a ông K1 hơn 000m2, diện t ch đất còn lại do hai cố khai phá. Quá trình giải quyết vụ án tại các biên bản lấy l i khai, bản tự khai cụ Mã Thế V đều xác định ngu n gốc đất do cha mẹ cụ khai phá một ph n và nhận chuyển nhượng từ ngư i khác, đơn đăng ký quyền sử dụng đất do cụ V ký thể hiện ngu n gốc sử dụng đất là thừa kế; l i khai c a bà L6, ông T11, giấy xác nhận c a ông Mã Ngọc C đều xác định đất tranh chấp là tài sản do cố L6 và cố P1 tạo lập chung.

Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập ch ng c để xác định: cố L6 chung sống với cố P1 có tạo lập được tài sản chung không? diện tích đất tranh chấp được tạo lập trước hay sau khi hai cố chung sống? xác định toàn bộ diện t ch đất tranh chấp là c a cố Trương Thị L6 để lại và chia thừa kế cho cụ V, bà M theo pháp luật là chưa có căn c vững ch c. Ngoài ra, bản án sơ thẩm xác định thiếu ngư i hưởng thừa kế, không nhận định cụ thể trong bản án về kỷ ph n thừa kế mà các đương sự được hưởng. Ph n quyết định không xác định rõ hàng thừa kế, di sản thừa kế, việc áng trích công s c cũng như quyết định việc phân chia di sản thừa kế cho ngư i hưởng di sản. Việc chia thừa kế bằng hiện vật chưa phù hợp, cụ thể: diện tích 3.336,1m2 g m các thửa 155, 156, 157 tại T15 trị giá 1 000 60 000đ ng; diện tích đất đo thực tế là 11.225m2 thuộc thửa 265, t bản đ địa chính số 11 xã T4, địa danh Đ1 trị giá 429.526 600 đ ng; diện t ch đất lúa tại các thửa 311, 312, 314 cùng nằm tại tòa bản đ địa chính xã T4 đều có thể xem xét chia di sản bằng hiện vật nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không giao di sản bằng hiện vật cho bà M đất di sản tại T15, không giao di sản bằng hiện vật cho cụ V đất di sản tại Đ1, không xác định rõ công s c c a anh H, chị T2 để làm cơ sở xem xét quyền lợi c a các bên đương sự khi chia di sản thừa kế, ph n quyết định tuyên chia cho anh H, chị T2 (không phải là ngư i thừa kế) một ph n đất di sản là chưa phù hợp.

. Về công s c quản lý, tôn tạo di sản:

Trong đơn khởi kiện cụ Mã Thế V xác định cuối năm 1 đ u năm 2000 cụ cho gia đình bà M, anh Hải làm nhà tạm trên đất vư n T15, năm 200 bà M sử dụng diện t ch đất canh tác; bà M khai năm 1 - 19 gia đình có lên khai phá và canh tác tại thửa đất Đ1, năm 1 anh H lấy vợ và làm nhà ở riêng trên đất ở T15; anh Vạn Văn H trình bày BL

khi đến ở trên đất tranh chấp tại T15 có thuê máy i san lấp b hào rộng khoảng hơn 1m, chạy dài theo đư ng quốc lộ và phát quang mở rộng d n đất b bụi để mở rộng diện tích. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu ch ng c để làm rõ diện tích, hiện trạng c a các thửa đất tranh chấp tại th i điểm bà M, gia đình anh H ra ở và canh tác để làm cơ sở xem xét quá trình sử dụng đất các đương sự đã tôn tạo, khai phá thêm như thế nào làm sơ sở cho việc áng trích công s c quản lý, tôn tạo di sản.

Do Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trong th tục tố tụng, vi phạm trong việc thu thập ch ng c mà những vấn đề này Tòa án cấp phúc thẩm không thể kh c phục được. Vì vậy để giải quyết vụ án theo đúng quy định c a pháp luật, bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp c a các bên đương sự c n h y toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo th tục sơ thẩm như đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa.

. Về án phí: Do h y toàn bộ bản án sơ thẩm, giao h sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo th tục sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tiền tạm ng án phí dân sự phúc thẩm các đương sự đã nộp sẽ được xem xét khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Từ những nhận định trên, căn c khoản 3 Điều 30 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. H y toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2020/DS-ST ngày 31 tháng 07 năm 2020 c a Toà án nhân dân tỉnh L.

2. Chuyển h sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh L để xét xử lại sơ thẩm vụ án theo quy định c a pháp luật.

3. Về án phí: Các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nghĩa vụ chịu án phí c a các đương sự trong vụ án được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo th tục sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ