vanban.org

Bản án 54/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 09/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tu ên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật H nh sự. X phạt: Bị cáo Phạm Thị H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngà 24 tháng 9 năm 2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHAM THI H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tu ên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. V
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2021/HS-ST
Ngày 09/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Miện

Ông Hà Văn Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Ngà 09 tháng 3 năm 2021 tại tr s Tòa án nhân dân thành phố V tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, t

s th m c ng khai v án h nh sự th lý số 10/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2021 theo Qu ết định đưa v án ra t số 34/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:

Phạm Thị H, sinh năm 1970 (tên gọi khác: Võ Thị H sinh năm 1968) tại tỉnh Kiên Giang; Hộ kh u thường trú: Kh ng đăng ký; tr nh độ văn hóa: 1/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; t n giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; cha tên Võ Văn T và mẹ tên Ngu ễn Thị N (cả hai đều đã chết); gia đ nh có 04 (bốn) chị em bị cáo là con thứ 03 (ba) trong gia đ nh; có chồng tên Ngu ễn Văn T sinh năm 1968; có 01 (một) con đã chết;

Tiền án tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngà 6/11/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố V tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phạt 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành ong h nh phạt tù vào ngày 17/02/2008 và đã chấp hành ong phần án phí vào ngày 20/02/2009.

Bị cáo bị bắt ngà 24 tháng 9 năm 2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (bị cáo có mặt).

- Bị hại: Anh Lê Hoàng L, sinh năm 1988; Địa chỉ: số 1063 đường B, Phường M, thành phố V tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).

- Người có qu ền lợi nghĩa v liên quan:

1. Chị Vũ Thị Đ sinh năm 1988; địa chỉ: 1032 đường B Phường M, thành phố V tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).

2. Chị Lâm Thị Mỹ P sinh năm 1978; địa chỉ: hẻm 880/35 đường B, Phường M, thành phố V tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Phạm Thị H là người thuê nhà của anh Lê Hoàng L (sinh năm 1988) số 1063 đường B Phường M, thành phố V tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Khoảng 07 giờ 30 phút ngà 23/09/2020 H thấ nhà anh L kh ng có người nhà H m c a vào bên trong đến tủ thuốc bên dưới cầu thang tầng trệt l c tủ lấ một con heo đất mang về phòng trọ. Tại đâ H đập con heo đất ra và kiểm tra bên trong có 11.910.000đ (Mười một triệu chín trăm mười nghìn đồng). H mang 2.425.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm nghìn đồng) đến gặp chị Vũ Thị Đ (sinh năm 1988 n i cư trú: 1032 đường B Phường M, thành phố V tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) chuộc lại 02 (hai) đ i b ng tai và 01 (một) n b ng tai mà H đã cầm cố cho chị Đ trước đó. Sau đó H đưa 7.500.000đ (Bả triệu năm trăm nghìn đồng) đến g i chị Lâm Thị Mỹ P (sinh năm: 1978 n i cư trú: hẻm 880/35 đường B, Phường M, thành phố V tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). H s d ng 670.000đ (Sáu trăm bả mư i nghìn đồng) tiêu ài cá nhân. Số tiền còn lại 1.315.000đ (Một triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng) H giữ trong người. Sau khi phát hiện bị mất số tiền bỏ trong con heo đất trên anh Lê Hoàng L đến C ng an Phường M, thành phố V tr nh báo v việc. Qua kiểm tra Camera phát hiện H là người thực hiện hành vi phạm tội nên đã bắt giữ H lý.

Tại c quan điều tra Phạm Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. (Bút l c điều tra từ số 48 đến số 55).

- Việc thu giữ tạm giữ tài liệu đồ vật và lý vật chứng: Ngày 24/9/2020, C ng an Phường 11 thành phố V tạm giữ số tiền 7.500.000đ (Bả triệu năm trăm nghìn đồng) mà Phạm Thị H g i cho Lâm Thị Mỹ P giữ; tạm giữ số tiền 2.425.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm nghìn đồng) của chị Vũ Thị Đ do Phạm Thị H đưa cho chị Đ để chuộc số vàng trên; Thu giữ của Phạm Thị H 1.315.000đ (Một triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng); 02 (hai) đ i b ng tai và 01 (một) n b ng tai mà H dùng tiền trộm cắp chuộc về.

- X lý vật chứng:

+ C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra qu ết định lý vật chứng trả lại cho anh Lê Hoàng L 8.815.000đ (tám triệu tám trăm mười lăm ngh n đồng).

Đối với số tiền 2.42 5.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm nghìn đồng) thu giữ của chị Vũ Thị Đ; 02 (hai) đ i b ng tai và 01 (một) n b ng tai hiện chu ển c quan Thi hành án thành phố V quản lý chờ lý.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Anh Lê Hoàng L yêu cầu H phải bồi thường số tiền 2.425.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm nghìn đồng).

+ Chị Vũ Thị Đ êu cầu H bồi thường số tiền 2.425.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 15/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã tru tố Phạm Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo qu định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ ngu ên cáo trạng nội dung tru tố về tội danh khung h nh phạt đối với bị cáo Phạm Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng t :

- Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật H nh sự đề nghị phạt bị cáo Phạm Thị H từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Vũ Thị Đ số tiền 2.425.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm nghìn đồng).

Về lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho anh Lê Hoàng L số tiền 2.425.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm nghìn đồng). Anh L không yêu cầu bồi thường g thêm; trả lại cho bị cáo 02 (hai) đ i b ng tai và 01 (một) n b ng tai là tài sản cá nhân của bị cáo.

Bị cáo Phạm Thị H đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của m nh như đã nêu trên. Khi nói lời sau cùng bị cáo thể hiện ăn năn hối cải và in được giảm nhẹ h nh phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ s v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng t nhận định như sau:

[1] Về hành vi qu ết định tố t ng của C quan điều tra Điều tra viên Viện kiểm sát Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra tru tố đã thực hiện đúng về th m qu ền tr nh tự thủ t c qu định của Bộ luật Tố t ng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi qu ết định của C quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi qu ết định tố t ng của C quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của m nh như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại c quan điều tra lời khai của bị hại, người có qu ền lợi nghĩa v liên quan vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ s v án thể hiện: Khoảng 07 giờ 30 phút ngà 23/09/2020 Phạm Thị H đã có hành vi l n lút lợi d ng lúc bị hại vắng nhà để trộm cắp 01 (một) con heo đất của anh Lê Hoàng L, bên trong con heo đất có số tiền 11.910.000đ (Mười một triệu chín trăm mười nghìn đồng). Hành vi bị cáo thực hiện đủ ếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” qu định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự.

[3] Về tính chất mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo: X t tính chất mức độ do hành vi phạm tội bị cáo đã gâ ra là ngu hiểm cho ã hội, trực tiếp âm phạm qu ền s hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ gâ ảnh hư ng ấu đến an ninh trật tự tại địa phư ng. Bị cáo đã từng bị phạt về hành vi trộm cắp tài sản, biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật bị nhà nước lý nghiêm minh nhưng do lười lao động tham lam lợi ích vật chất nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm m c đích có tiền tiêu ài cá nhân. V vậ cần phải lý nghiêm tu ên mức h nh phạt phù hợp tư ng ứng với hành vi tính chất mức độ phạm tội nhằm cải tạo giáo d c riêng bị cáo đồng thời bảo đảm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về t nh tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự:

[4.1] Về t nh tiết tăng nặng: Bị cáo kh ng có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự.

[4.2] Về t nh tiết giảm nhẹ: Trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành kh n khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh. V vậ , Hội đồng t áp d ng t nh tiết giảm nhẹ được qu định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh sự để em t khi lượng h nh đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Vũ Thị Đ số tiền 2.425.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm ngàn đồng).

[6] Về lý vật chứng:

C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra qu ết định lý vật chứng trả lại cho anh Lê Hoàng L 8.815.000đ (tám triệu tám trăm mười lăm ngh n đồng).

Đối với số tiền 2.425.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm nghìn đồng) thu giữ từ chị Vũ Thị Đ đâ là số tiền do bị cáo trộm cắp của anh L để đưa cho chị Đ chuộc 02 (hai) đ i b ng tai và 01 (một) n b ng tai nên trả lại số tiền trên cho anh Lê Hoàng L. Anh L kh ng êu cầu bồi thường g thêm.

Trả lại cho bị cáo 02 (hai) đ i b ng tai và 01 (một) n b ng tai đây là tài sản cá nhân của bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo Phạm Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí h nh sự s th m và phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự s th m.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tu ên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật H nh sự.

- X phạt: Bị cáo Phạm Thị H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngà 24 tháng 9 năm 2020.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo H có trách nhiệm bồi thường số tiền 2.425.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm nghìn đồng) cho chị Vũ Thị Đ.

Kể từ ngà qu ết định có hiệu lực pháp luật bên được thi hành án có đ n êu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chưa thực hiện ong nghĩa v th bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất qu định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về lý vật chứng: Áp d ng Điều 47 Bộ luật h nh sự; Điều 106 Bộ luật tố t ng h nh sự.

- Trả lại cho anh Lê Hoàng L số tiền 2.425.000đ (Hai triệu bốn trăm hai mư i lăm ngh n đồng);

- Trả lại cho bị cáo 02 (hai) đ i b ng tai (kim loại màu vàng) và 01 (một) n b ng tai.

Thực hiện lý vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản số: 76/BB.THA và Biên lai thu tiền số 0002082 cùng ngày 19 tháng 01 năm 2021 của Chi c c Thi hành án dân sự thành phố V.

4. Án phí: Bị cáo Phạm Thị H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí h nh sự s th m và 300.000đ (ba trăm ngh n đồng) án phí dân sự s th m.

5. Qu ền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có qu ền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngà tính từ ngà tu ên án. Đối với người có qu ền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo nêu trên tính từ ngà nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm ết để êu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu t lại v án theo thủ t c phúc th m.

Trường hợp bản án qu ết định được thi hành theo qu định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự người có qu ền lợi và nghĩa v liên quan có qu ền thỏa thuận thi hành án qu ền êu cầu thi hành án tự ngu ện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo qu định tại các Điều 6 7 7a 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ