vanban.org

Bản án 54/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 12/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố ra trước TAND huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để xét xử đối với bị can Đặng Văn Dậu về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015.

* Kèm theo Cáo trạng là: Hồ sơ vụ án gồm 01 tập: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Hữu P phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Truy tố ra trước TAND huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để xét xử đối với bị can Đặng Văn Dậu về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2021/HS-ST
Ngày 12-10-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Kim Thêu và ông Hoàng Văn Khảm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 10 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Tô Hữu P, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1974 tại xã Đồng Văn, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Hữu L(đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị Thu Hvà có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt tam giam ngày 12/4/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo Tô Hữu P: Ông Nguyễn Văn H, Luật sư thuộc Công ty luật Kiến Phúc, “có mặt”.

Bị hại: Anh Đào Huy M, sinh năm 1981; cư trú tại: Thôn Q, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Minh: Ông Bùi Khắc H, Luật sư thuộc văn phòng Luật sư Cao Đạt – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, “có mặt”

Người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

Người làm chứng: - Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

- Ông Ngô Văn S, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”

- Anh Tô Viết Tùng, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07h30 phút ngày 10/12/2020, Tô Hữu P đang đi bộ trên đường bờ kênh giáp với cánh đồng Sau Nha thuộc thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thì nhìn thấy 01 chiếc lồng bẫy chuột bằng kim loại đặt ở thửa ruộng bên ven đường. Do không thấy ai quản lý nên P nhặt chiếc lồng đem về để sau đó dùng làm dụng cụ bẫy chuột. Khoảng 15h ngày 11/12/2020, P mang chiếc lồng này đi bộ ra bờ kênh giáp với ruộng nhà ông bà Lan - Bốn thuộc cánh đồng Sau Nha thì gặp anh Đào Huy M là người H hay đánh bẫy chuột tại khu vực này. Thấy P đang cầm chiếc bẫy chuột giống với những chiếc bẫy bị mất trước đó nên anh Minh hỏi P có phải là người đã lấy trộm bẫy chuột của mình không. P trả lời không lấy nên 02 bên đã xảy ra mâu thuẫn xô sát, cãi chửi nhau. Anh Minh bị P du đẩy về phía mép bờ kênh giáp ruộng nhà ông bà Lan - Bốn. Lúc này, P và anh Minh đứng đối diện cách nhau khoảng 50 - 60cm, Phải nắm chặt bàn tay phải đấm mạnh 01 phát từ dưới lên trên, từ phải sang trái, từ sau ra trước về phía mặt anh Minh. Anh Minh theo phản xạ cúi mặt nghiêng về phía bên phải để né tránh thì bị cẳng tay phải (giáp cổ tay) của P đánh trúng vào vùng gáy làm anh Minh ngã xuống ruộng nhà ông bà Lan - Bốn, thấy vậy P bỏ về. Khoảng 15h30 phút cùng ngày, bà Nguyễn Thị Đ đi làm đồng về phát hiện anh Minh đang nằm dưới ruộng nên đã thông báo cho người nhà đến đưa đi Bệnh viện cấp cứu, điều trị.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, tổ chức điều tra theo quy định của pháp luật và xác minh, làm rõ Tô Hữu P là đối tượng đánh gây thương tích cho anh Minh như nội dung trên.

Tại Văn bản số: 27/TgT ngày 05/02/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận anh Minh bị các thương tích sau:

Đụng dập tủy cổ C4, C5, liệt tứ chi, tê bì đau rát tứ chi xếp: 81%.

Rối loạn cơ tròn (đại tiểu tiện không tự chủ không tH xuyên) xếp: 31%.

Lấy xương ghép tự thân, gai chậu trước trên bên trái xếp: 04%.

Sẹo phẫu thuật tương ứng gai chậu trước trên bên trái xếp: 01%.

Sẹo vết mổ 1/3 trên mặt trước ngoài cổ trái kích thước nhỏ xếp: 01%.

Các thương tích mô tả trên do vật tày gây nên. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đào Huy M do thương tích gây nên ở thời điểm hiện tại xếp: 88% (tám mươi tám phần trăm).

Để làm rõ nội dung kết luận giám định, Cơ quan điều tra có Công văn số 44/CV ngày 28/02/2021 đề nghị Trung tâm pháp y tỉnh phối hợp, làm rõ hành vi Tô Hữu P dùng tay đánh vào vùng gáy có khả năng gây dập tủy cổ C4, C5 của anh Đào Huy M không? Ngày 04/3/2021, Trung tâm pháp y đã có Văn bản số 06/PY-GĐTH phúc đáp với nội dung: Qua giám định thực tế và nghiên cứu hồ sơ tài liệu được cung cấp xác định hành vi của Tô Hữu P dùng tay đánh vào gáy có khả năng gây ra dập tủy cổ C4, C5 của anh Minh. Thương tích này có thể dẫn đến liệt tứ chi, tê bì đau rát tứ chi và rối loạn cơ tròn cho anh Minh hay không thì phụ thuộc vào mức độ tổn thương và mức độ phục hồi.

Quá trình điều tra làm rõ: Chiều ngày 11/12/2020, khi nhìn thấy bị cáo cầm chiếc bẫy chuột, anh Minh cho rằng P là người đã lấy trộm bẫy chuột của mình dẫn đến hai bên du đẩy, cãi chửi nhau. Do bực tức, P dùng tay phải đấm 01 phát về phía vùng mặt anh Minh tuy nhiên theo phản xạ anh Minh cúi mặt, nghiêng về phía bên phải để né tránh dẫn đến bị cẳng tay phải của P đánh trúng vào vùng gáy làm anh Minh ngã xuống đất. Khi được người dân phát hiện, anh Minh nằm ở tư thế đầu nghiêng về phía bên trái. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định, vị trí này mặt ruộng khô, cứng, có nhiều cây cỏ mọc, không có nước nên không có khả năng gây ngạt thở cho bị hại. Ngoài ra P chỉ dùng tay đấm 01 phát, thấy anh Minh bị ngã thì dừng lại, không tấn công tiếp mà bỏ về. P không sử dụng hung khí, không có động cơ, mục đích tước đoạt tính mạng của bị hại, trước khi sự việc xảy ra, giữa 02 người cũng không có mâu thuẫn, thù hằn gì.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình anh Minh giao nộp một số hóa đơn, chứng từ, bảng kê khai chi tiết yêu cầu bị cáo P phải bồi tH tổng số tiền là: 337.000.000đồng (ba trăm ba mươi bẩy triệu đồng), gồm các khoản: Chi phí điều trị, thuốc men = 200.000.000đồng; chi phí ăn uống, đi lại của anh Minh và người chăm sóc = 35.000.000đồng; tiền công anh Minh không lao động được trong thời gian điều trị và phục hồi chức năng (12 tháng) = 72.000.000đồng; tiền công của người chăm sóc (04 tháng) = 24.000.000đồng; chi phí thuốc men điều trị tại nhà trong 06 tháng = 6.000.000đồng. Tại phiên tòa anh Minh và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Minh yêu cầu bị cáo phải bồi tH tổng số tiền là: 335.200.000đồng, gồm các khoản: Chi phí thuốc men, chăm sóc, chữa trị = 200.000.000đồng; tiền công người chăm sóc (4 tháng x 8.500đồng/ tháng) = 34.000.000đồng; tiền mất thu nhập của anh Minh 12 tháng = 50.500.000đồng; tiền thuốc tại nhà sau khi ra viện 6 tháng (1.000 x 6 tháng) = 6.000.000đồng; tiền tổn thất về tinh thần 30 tháng lương cơ bản = 44.700.000đồng. Bị cáo đã tự nguyện bồi tH cho anh Đào Huy M số tiền 72.000.000đồng, nay yêu cầu phải có trách nhiệm bồi tH tiếp số tiền: 263.200.000đồng (hai trăm sáu mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số: 48/CT– VKS ngày 17 tháng 8 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Tô Hữu P về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Tô Hữu P từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 12/4/2021.

Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại giữa bị hại và bị cáo số tiền 335.200.000đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng), xác nhận bị cáo đã bồi H được số tiền 72.000.000đồng (bẩy mươi hai triệu đồng), nay còn phải bồi tH tiếp số tiền 263.200.000đồng (hai trăm sáu mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng).

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 lồng bẫy chuột bằng kim loại;

Ý kiến của người tham gia tố tụng:

Luật sư bào chữa cho bị cáo Tô Hữu P trình bày bản bào chữa khẳng định Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Y đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Đề nghị Hội đồng xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo là phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục một phần hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt.

Bị hại, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày quan điểm khẳng định Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Y đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Hành vi của bị cáo đối với bị hại là nghiêm trọng, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm và giải quyết mức bồi tH thiệt hại với tổng số tiền là 335.200.000đồng, xác nhận bị cáo đã bồi tH cho bị hại được số tiền là 72.000.000đồng, nay yêu cầu bị cáo bồi bồi tH tiếp số tiền là 263.200.000đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu H trình bày: Chị là vợ của bị cáo P, toàn bộ số tiền 72.000.000đồng bị cáo bồi tH cho bị hại một phần là do bị cáo tự đi làm tích cóp được, phần còn lại là tiền của gia đình chị, nay chị không đề nghị gì đối với khoản tiền này.

Bà Nguyễn Thị Đ là người làm chứng tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra bà khai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/12/2020, bà đi ra khu vực cánh đồng Sau Nha, trên đường đi bà nhìn thấy phía dưới ruộng nhà bà Lan Bốn có một nam giới mặc áo dài màu dàn di bộ đội, mặc quần dài màu xanh, chân đi ủng màu bộ đội, thấy người này đang nằm sấp ở dưới nền ruộng nhà bà Lan Bốn, đầu người này hướng ra khu vực cánh đồng, hai chân hướng vào bờ kênh không thấy họ cử động, bà đi tiếp thì nhìn thấy có một số người đang ngồi chơi trên bờ kênh nên bà đã thông báo cho những người biết có người đang nằm dưới ruộng, sau đó bà đi về nhà.

Ông Nguyễn Văn Sáng là người làm chứng tuy vắng mặt nhưng quá trình điều tra ông khai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/12/2020, ông đang ở nhà thì nhận được điện thoại của ông tô Trong Dị thông báo là có người nằm úp mặt xuống ruộng ở ngoài khu vực cánh đồng Sau Nha không biết còn sống hay chết. Ngay lập tức ông đi ra khu vực cánh đồng Sau Nha, khi đến ruộng nhà ông bà Lan Bốn ông phát hiện một người đàn ông khoảng gần 40 tuổi mặc áo dài tay màu dàn gi giống màu bộ đội, quần màu xanh, hai chân deo ủng, hai chân hướng vào bờ kênh nước và với bờ kênh nước, đầu hướng ra ngoài khu vực cánh đồng Sau Nha, cạnh tay trái có một chiếc điện thoại di động màu đen, hai tay hai chân không cử động được, ông lại hỏi thì người này có nói tên là Minh và bị P đánh và ông hỏi số điện thoại của người thân anh Minh, anh Minh đã cho sau đó ông đã gọi thông báo cho người nhà anh Minh biết và ông có chụp một số kiểu ảnh về anh Minh.

Anh Tô Viết Tùng là người làm chứng tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra anh khai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/12/2020 khi anh đang đi chơi thì nhận được điện thoại của ông Tô Viết Chiến thông báo là anh có người nhà bị đánh ở cánh đồng Sau Nha nên anh đi ra đó và phát hiện ra là chú Đào Duy Minh chú mặc áo dài tay màu dàn gi giống màu bộ đội, quần màu xanh, hai chân deo ủng, hai chân hướng vào bờ kênh nước và với bờ kênh nước, đầu hướng ra ngoài khu vực cánh đồng Sau Nha, anh hỏi thì chú Minh trả lời là bị P đánh. Sau đó anh cùng mọi người khênh chú Minh lên và đưa vào xe ô tô cho chú Minh đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc cấp cứu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy tại phiên toà, bị cáo Tô Hữu P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể như sau: Khoảng 15 giờ ngày 11 tháng 12 năm 2020, tại Cánh đồng Sau Nha thuộc thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; do anh Đào Huy M có nghi ngờ P lấy lồng bẫy chuột của anh Minh nên hai bên đã lời qua tiếng lại, P đã nắm chặt bàn tay phải đấm mạnh một phát từ dưới lên trên, từ phải sang trái, từ sau ra trước về phía mặt anh Minh. Anh Minh cúi mặt nghiêng về phía bên phải để tranh thì bị cẳng tay phải của P đánh trúng vào vùng gáy làm anh Minh ngã xuống ruộng. Hậu quả làm anh Minh bị thương tích, tổn hại sức khỏe là 88% theo kết luận giám định thương tích.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản sự việc, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và vật chứng của vụ án thu giữ được. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Tô Hữu P phạm tội “cố ý gây thương tích”. Tội danh được quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự; có khung hình phạt tù từ năm năm đến mười năm.

[4] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi tH pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là tự nguyện bồi tH thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do hành vi phạm tội của bị cáo cho bị hại là rất nghiêm trọng. Vì vậy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam nhưng cũng xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và xử phạt bị cáo mức án như Viện kiểm sát đề nghị mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung, cũng như giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải có nghĩa vụ bồi tH tổng số tiền: 335.200.000đồng. Bị cáo đã tự nguyện bồi tH được số tiền: 72.000.000đồng, nay yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi tH tiếp số tiền: 263.200.000đồng. Bị cáo nhất trí bồi tH cho bị hại số tiền trên và trình bày hiện nay đang bị tạm giam đến khi nào bị cáo chấp hành xong bản án ra trại bị cáo sẽ bồi tH cho bị hại, xét thỏa thuận đó là tự nguyện nên Hội đồng xét xử sẽ ghi nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 lồng bẫy chuột bằng kim loại.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Tô Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Tô Hữu P 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 12/4/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Tô Hữu P phải có nghĩa vụ bồi tH cho anh Đào Huy M tổng số tiền: 335.200.000đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng), xác nhận bị cáo đã bồi tH được số tiền: 72.000.000đồng (bẩy mươi hai triệu đồng), nay phải có nghĩa vụ bồi tH tiếp số tiền: 263.200.000đồng (hai trăm sáu mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng), do bị cáo có hành vi gây thương tích cho anh Đào Huy M ngày 11 tháng 12 năm 2020.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 lồng bẫy chuột có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 9 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Y.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 13.160.000đồng (mười ba triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- VKSND huyện Y;

- Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;

- CQĐT - CA huyện Y;

- CQCSTHAHS - CA huyện Y;

- Chi cục THADS huyện Y;

- Lưu HS,VP.

Trần Thị Lan Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- VKSND huyện Y;

- Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;

- CQĐT - CA huyện Y;

- CQCSTHAHS - CA huyện Y;

- Chi cục THADS huyện Y;

- Lưu HS,VP.

Trần Thị Lan

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phan – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

- VKSND huyện Y;

- Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;

- CQĐT - CA huyện Y;

- CQCSTHAHS - CA huyện Y;

- Chi cục THADS huyện Y;

- Lưu HS,VP.

Trần Thị Lan

Cả hai lần giám định đều không có biên bản bàn giao tài liệu giám định; trong quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Công an huyện Y thể hiện tài liệu đi kèm là: không và trong quyết định trưng cầu giám định bổ sung không thể hiện tên và tài liệu kèm theo. Tuy nhiên trong bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y lại thể hiện có tài liệu hồ sơ bệnh án ngoại khoa và hồ sơ bệnh án của Bệnh viện hữu nghị Lạc Việt hồ sơ vụ án đã Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Dậu từ tháng đến tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo qui định của pháp luật.

- Cả hai lần giám định đều không có biên bản bàn giao tài liệu giám định. Trong Quyết định trƣng cầu giám định số 235 ngày 12/6/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y thể hiện tài liệu đi kèm là: Không, tuy nhiên trong bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 296 ngày 25/6/2020 của Trung tâm pháp y lại thể hiện cóa hồ sơ bệnh án ngoại khoa và hồ sơ bệnh án của Bệnh viện hữu nghị Lạc Việt.

tài liệu kèm theo, không có hồ sơ giám định, không có biên bản bàn giao hồ sơ giám định.

- Không ra Quyết định phân công phó thủ trƣởng, điều tra viên, cán bộ điều tra viên.

- Biên bản xác minh ngày 09/6/2020, do ông Nguyễn Văn Tùng là cán bộ Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Y lập tại Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt không có giá trị pháp lý vì Cơ quan điều tra chƣa thụ lý tin báo, chƣa có phân công Điều tra viên.

- Trong biên bản xác minh thƣơng tích ngày 09/6/2020 do ông Nguyễn Văn Tùng lập ghi nhận: Khám ngoài có 01 vết thƣơng vùng cung mày bên trái gò má bờ mép vết thƣơng nham nhở, kích thƣớc 1cm và quanh vùng mắt trái xây xát sƣng nề…. Nhƣng trong Bản kết luận giám định số: 296 ngày 25/6/2020 thể hiện có 02 vết thƣơng sẹo vết thƣơng đuôi cung lông mày trái và sẹo vết thƣơng phần mềm gò má trái mỗi vết 3%

- Bản kết luận giám định thƣơng tích số: 296 ngày 25/6/2020 và bản kết luân giám định bổ sung thƣơng tích số: 14 ngày 22/12/2020 không đúng, vi phạm về trình tự nhƣ: Bản kết luận số 296: Thời điểm giám định là 11 giờ 13 phút ngày 24/6/2020 nhƣng trong kết luận thể hiện tài liệu là Phiếu kết quả chụp ngày 25/6/2020 nhƣ vậy cơ quan giám định tiến hành giám định khi chƣa đủ hồ sơ tài liệu; Bản kết luận số 14: Sử dụng tóm tắt hồ sơ bệnh án sao ngày 01/7/2020 là không đúng mà phải có bản sao hợp pháp tất cả hồ sơ bệnh án liên quan đến thƣơng tích cần giám định.

- Bị cáo không đƣợc giao 02 kết luận giám định thƣơng tích của bị hại anh Phùng VănTài.

- Việc giám định bổ sung phải đƣợc thực hiện ngay khi bị hại hồi phục ổn định sức khỏe.

Vật chứng vụ án: 01 viên gạch đất nung màu đỏ thu giữ không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 xe mô tô BKS 88K7 – 7944, là tài sản hợp pháp của vợ chồng Đặng Văn Dậu, Đinh Thị Duyên nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Đinh Thị Duyên là phù hợp.

Quá trình điều tra, xác minh tại địa phương thấy: Trước khi phạm tội Đặng Văn Dậu không có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra, bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi tH thiệt hại, khắc phục hậu quả và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên có thể xem xét, cân nhắc khi lượng hình.

Trước Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, Đặng Văn Dậu đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên. Hành vi phạm tội của bị can thể hiện rõ tính chất côn đồ, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt khi va chạm với xe của bị hại mà bị can đã có hành vi du đổ xe mô tô của bị hại dẫn đến xảy ra xô xát. Mặc dù đã được anh Sái Văn Cường can ngăn nhưng bị can vẫn tiếp tục sử dụng viên gạch đất nung, là hung khí nguy hiểm để đánh lại anh Tài, thể hiện việc coi tH tính mạng, sức khỏe của người khác. Lời khai nhận tội của bị can phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, lời khai nhân chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án (từ BL số 40 – 100, 138 - 169).

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên

KẾT LUẬN

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/6/2020, tại thôn 1 Ngọc Long, xã Hồng Châu, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, do mâu thuẫn cá nhân dẫn đến Đặng Văn Dậu đã có hành vi dùng 01 viên gạch đất nung kích thước (16 x 10 x9)cm đánh 02 phát vào vùng mặt của anh Phùng Văn Tài gây thương tích. Theo kết luận giám định, anh Tài bị tổn hại 13% (mười ba phần trăm) sức khỏe.

Hành vi của Đặng Văn Dậu dùng 01 viên gạch đất nung là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho nạn nhân với tỷ lệ tổn hại sức khỏe 13% là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất côn đồ nên cần xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Như vậy đã có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây phạm tội như sau:

LÝ LỊCH BỊ CAN

Họ và tên: Đặng Văn Dậu (tên gọi khác: Không) - SN 01/11/1961;

STQ: Thôn Bãi Đồn, xã Vân Hà, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Văn hóa: 05/10; Chức vụ Đảng, đoàn thể:

Không;

Cha: Đặng Văn Tý – Đã chết;

Mẹ: Phùng Thị Thanh – Đã chết;

Vợ: Đinh Thị Duyên – Sinh năm 1964 cư trú xã Vân Hà, huyện Phúc Thọ, Tp Hà Nội;

Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2001;

Gia đình có 07 anh chị em, bị can là con thứ tư;

Quá trình hoạt động: Không; Tiền án; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 27/03/2003 bị TAND huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây (cũ) xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị can bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại tại địa phương.

Hành vi nêu trên của Đặng Văn Dậu đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS. (Với tình tiết dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS 2015).

Điều luật quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

…đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Bị can được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Vì các căn cứ nêu trên

QUYẾT ĐỊNH

Truy tố ra trước TAND huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để xét xử đối với bị can Đặng Văn Dậu về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015.

* Kèm theo Cáo trạng là:

- Hồ sơ vụ án gồm 01 tập:

Bút lục được đánh số từ 01 đến

.

- Bảng kê vật chứng vụ án.

- Danh sách những người VKS đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên Toà.

Cỡ chữ