vanban.org

Bản án 54/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 10/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Xuân D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt: Áp dụng điể m c Khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điể m g khoả n 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngày bắ t tạ m giam 10/6/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Xuân D phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2021/HS - ST
Ngày: 10 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Vũ Văn Quảng

- Bà Phan Thị Hạ nh Mỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thảo – Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễ n Việ t Hạ nh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2021/TLST – HS, ngày 24 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2021/QĐXXST – HS, ngày 30 tháng 8 năm 2021 đối với,

Bị cáo: Nguyễ n Xuân D - sinh năm 1989, tại: huyệ n TT, tỉnh Thái Bình ; Nơi cư trú : thôn N, xã T, huyệ n TT, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễ n Quố c H và bà Đỗ Thị C ; có vợ là Nguyễ n Thị P và 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: tố t, bị bắt tạm giam từ ngày 10/6/2021 cho đế n nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyệ n Tiề n Hả i, tỉnh Thái Bình.

Bị hại:

- Chị Vũ Thị L – sinh năm 1981

Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Ông Vũ Thế H1 - sinh năm 1955

Anh Vũ Văn M - sinh năm 1979 (con trai ông Hù ng)

Đều có địa chỉ : số nhà x, phố P, tổ dân phố số y, thị trấn T, huyệ n T, tỉnh Thái Bình.

- Anh Nguyễ n Minh T - sinh năm 1974

Đị a chỉ : thôn z, xã V, huyệ n K, tỉnh Thái Bình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đặng Xuân N - sinh năm 1970

Đị a chỉ : thôn L, xã T, huyệ n T, tỉnh Thái Bình.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễ n Văn Q - sinh năm 1988

Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Chị Phạm Thanh H2 - sinh năm 1983

Đị a chỉ: tổ A, phườ ng Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Chị Trịnh Thùy L1 - sinh năm 2000

Đị a chỉ : thôn N, xã T, huyệ n TT, tỉnh Thái Bình.

- Chị Trần Thị Hải Y - sinh năm 1980

Đị a chỉ: tổ dân phố số B, thị trấnT, huyệ n T, tỉnh Thái Bình.

- Anh Đinh Xuân P - sinh năm 1982

Đị a chỉ : tổ dân phố T, thị trấn T, huyệ n T, tỉnh Thái Bì nh.

(Tại phiên tòa: có mặt bị cáo; vắ ng mặ t cá c bị hạ i, ngườ i liên quan và nhữ ng

ngườ i là m chứ ng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/6/2021 sau khi nghỉ ở khá ch sạ n Ho àng Lê cù ng Nguyễ n Văn Q , Nguyễ n Hoàng N, Phạm Thanh H2 và Trịnh Thùy L1. Trong khi chờ Q thanh toá n tiề n phò ng thì D đi ra khu vự c lá n để xe củ a khá ch sạn để xem chim cả nh . Nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng BKS: 17B8-223.xx của chị Vũ Thị L dự ng ở lá n xe khá ch sạ n , chìa khóa vẫ n cắ m ở cổ khó a điệ n nên nả y sinh ý đị nh trộ m cắ p tà i sả n

. Quan sá t sung quan không có ngườ i , D đi đế n dù ng tay phả i rú t chì a khó a ra khỏ i ổ khó a điệ n rồ i lên xe ô tô về nhà anh Q. Khi về gầ n đế n nhà anh Q , D xuố ng xe cò n Q tiế p tục điề u khiể n xe chở chị L 1, chị H2 đi thà nh phố Thá i Bì nh. Đợi xe của anh Q đi xa, D đi bộ ra đườ ng sau đó đi nhờ xe củ a mộ t ngườ i đà n ông khoả ng 45 tuổ i không biế t tên, đị a chỉ để quay lạ i khá ch sạn Hoàng Lê. Đế n nơi, D xuố ng xe đi thẳ ng và o khu vự c lá n để xe củ a khá ch sạ n. Quan sá t xung quan không có ngườ i, D lấ y chiế c chì a khó a mở khó a điệ n chiế c xe rồ i nổ má y đi về hướ ng xã T. Khi đến khu vực chân cầu Trà Lý thuộc địa phận huyện TT, Diệ u dừ ng xe mở cố p ra để kiểm tra thì thấy có túi màu đen kích thước 10x05cm đự ng dụ ng cụ sử a chữ a xe, D dùng chiếc cờ lê 10 ở trong túi để tháo biển kiểm soát xe và 02 gương chiế u hậ u cấ t và o cố p và điề u khiể n xe đi về hướ ng thị tr ấn Tiền Hải thì nhậ n đượ c điệ n thoạ i củ a Q hỏi “có lấy xe ở khá ch sạ n hoà ng lê không” , D trả lời “có”, anh Q nói “xe này của bà chị trước làm cùng , toàn chỗ chị em, ông đang ở đâu thì về miế u Ba Cô đợ i tôi đ ể tôi lấy xe trả cho chị ấy” . Đế n khoả ng 20 giờ cùng ngày anh Q điề u khiể n xe ô tô chở chị H 2, chị L1 gặ p D, D đưa chì a khó a xe mô tô cho anh Q, anh Q nhờ chị H2, chị L1 mang chiế c xe trên trả lạ i cho chị L1 còn D lên xe ô tô đi về nhà Q . Kế t quả đị nh giá chiế c xe mô t ô nhã n hiệ u Honda Lead mà u vàng BKS: 17B8-223.xx đã qua sử dụ ng có giá 26.000.000đ.

Quá trình điều tra, D còn khai nhận 02 lầ n trộ m cắ p tà i sản tại thị trấn T và xã T, huyệ n T cụ thể như sau:

Khoảng 01 giờ sá ng ngà y 18/5/2021, D đi bộ từ khá ch sạ n Hoà ng Nam ra khu vự c sân vậ n độ ng 14/10 để mua đồ ăn thì phát hiệ n cổ ng nhà ông Vũ Thế H tại tổ dân phố số 3, thị trấn Tiền Hải khép nhưng không khóa , trong sân để 4 chiế c xe mô tô nên nả y sinh ý định trộm cắp. Lúc đầu D mở cổ ng đế n cạ nh chiế c xe mô tô nhã n hiệ u Yamaha Exciter m àu xanh trắng BKS: 17B8-035.yy của anh Vũ Văn M kiể m tra thấ y xe khó a cổ , D dắ t xe ra khu vự c công trườ ng xây dự ng thuộ c đị a phậ n thôn Đ, xã T, huyệ n T mục đích để bẻ cổ xe phá khóa . D dùng chân phả i đạ p và o ghi đông để bẻ khó a cổ , do lự c đạ p mạ nh nên là m cổ xe bị gãy rời không đi đượ c . D vứ t xe ở bã i cỏ gầ n công trườ ng xây dự ng. Kế t quả đị nh giá chiế c xe mô tô Yamaha Exciter m àu xanh trắng BKS : 17B8-035.yy đã qua sử dụ ng trị giá 22.500.000đ.

Sau đó tiế p tụ c quay lạ i nhà ông H mở cổ ng đế n xe mô tô nhã n hiệ u Moto Star mà trắ ng BKS: 17F6-98zz của ông Vũ Thế H thấ y chìa khóa vẫn cắm ở xe, D dắ t xe ra ngoà i nổ má y rồ i đi về hướ ng công trườ ng xây dự ng . Quan sá t thấ y cách công trường xây dựng khoảng 300m có nhà kho bằ ng tôn là nơi cấ t giữ máy móc, đồ xây dự ng củ a anh Nguyễ n Minh T , D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong kho. Phát hiện cửa nhà kho được khóa bằng khóa Việ t Tiệ p, chìa khóa vẫ n cắ m ở ổ , D mở khó a và o kho trộ m cắ p: 01 máy cân bằng tia Laser nhãn hiệu Hitachi mà u xanh đen; 01 máy cắt cầm tay màu xanh ; 01 máy đục bê tông nhãn hiệ u Lucky mà u xanh ; 01 máy khoan bắt vít cầm tay nh ãn hiệu Makita màu xanh đen ; 01 đầ u thu Camera nhã n hiệ u UNV mà u trắ ng ; 01 đầ u chia cổ ng Camera 08 port mà u đen, D đem tấ t cả cho và o bao xá c rắ n mà u xan h rồ i vá c ra bên ngoà i. D dùng tay tháo biển kiểm soát của chiếc xe vừ a trộ m cấ p vứ t xuố ng ruộ ng rồ i nhặ t mộ t đoan dây cao su mà u đen ở sân công trườ ng chằ ng chiế c bao đự ng đồ vừ a trộ m cắ p đượ c lên yên xe và điề u khiể n xe và đồ trộ m cắ p đượ c đi theo hướ ng cầ u trà lý . Kế t quả đị nh giá : Chiế c xe Moto Star BKS 17F6-98zz đã qua sử dụ ng trị giá 2.700.000đ và cá c tà i sả n trộ m cắ p ở công trì nh xây dự ng có tổ ng giá trị 7.320.000đ. Đế n 08 giờ 30 phút, D mang đồ trộ m cắ p đế n gạ bán cho anh Đặ ng Xuân N ở thôn L, xã T là chủ cửa hàng thu mua phế liệu vớ i giá 1.500.000đ. Anh N mở bao ra xem chọ n mua 01 máy cân bằng tia Laser, 01 máy cắ t cầ m tay, 01 máy đục bê tông với giá 1.300.000đ, còn đầu thu, đầ u chia hì nh camera và máy khoan bắ t ví t thì không mua . D chỉ vào ch iế c xe Moto Star hỏ i anh N “Chú có mua chiế c xe má y nà y không?”, anh N nói “xe này chỉ mua theo giá đồng nát thôi, tôi trả chú 700.000đ”. D đồ ng ý , anh N đưa cho D 2.000.000đ. D nhậ n tiề n rồ i cầ m bao xá c rắ n bên trong đự ng đầ u thu camera , đầ u chia hì nh camera và má y khoan bắ t ví t chạ y pin về nhà anh Nguyễ n Văn Q . Anh Q hỏi “đồ nà y ở đâu” thì D nói “đồ của tao, cho gử i ở nhà mày mấy hôm” sau đó đi về . Số tiề n 2.000.000đ, D đã tiêu xà i cá nhân hế t.

Tại bản cáo trạng số 62/CT - VKSTH ngày 24/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố: Bị cáo Nguyễ n Xuân D về tội "Trộm cắp tài sản" theo điể m c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễ n Xuân D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: điể m c k hoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điể m g khoả n 1 Điề u 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù , thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bắ t tạ m giam 10/6/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bản thân bị cáo còn phải nuôi dưỡng chăm sóc hai con nhỏ .

- Ngoài ra còn đề nghị về trách nhiệm dân sự , xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại, ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan.

* Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Bị cáo gửi lời xin lỗi đến những người bị hại , gia đì nh bị cá o và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại , ngườ i có quyề n lợ i nghãi vụ liên quan không có khiếu nại, kiến nghị gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra, cáo trạng truy tố. Bị cáo khai: Do không có tiề n tiêu sà i cá nhân nên t rong cá c ngà y 18/5/2021 và ngày 07/6/2021, tại các địa điể m là nhà ông Vũ thế H ở tổ dân phố số x, thị trấn T; nhà kho thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyệ n T và khách sạn Hoàng Lê ở tổ dân phố T, thị trấn T, lợ i dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi

, quản lý tài sản , bị cáo Nguyễ n Xuân D đã trộ m cắ p 01 xe mô tô nhã n hiệ u Yamaha Exciter BKS: 17B8-035.yy của anh Vũ Văn M ; 01 xe mô tô nhã n hiệ u Moto Star BKS 17F6-98zz của ông Vũ Thế H ; 01 máy cân bằng Laser , 01 máy cắt đĩa , 01 máy đục bê tông, 01 máy khoan bắn vít cầm tay , 01 đầ u thu camera , 01 đầ u chia cổ ng camera củ a anh Nguyễ n Minh Tuân ; 01 xe mô tô nhã n hiệ u Honda Lead BKS 17B8-223.xx của chị Vũ Thị L . Tổ ng giá trị tà i sả n trộ m cắ p đượ c là 58.520.000đ.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, quá trình truy tố và hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa như: Đơn trình báo, lời khai của các bị hại chị Vũ Thị L, ông Vũ Thế H, anh Vũ Văn M, anh Nguyễ n Minh T; Biên bản khám xét chỗ ở củ a Nguyễ n Xuân D; Các sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản kết luận định giá tài sản ngày 09/6/2021 và ngày 17/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tiền Hải; Các biên bản tạm giữ, biên bả n bà n giao đồ vậ t, tài liệu; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặ ng Xuân N và lời khai củ a nhữ ng người làm chứng anh Nguyễ n Văn Q , chị Trịnh Thùy L 1, chị Phạm Thanh H, chị Trầ n Thị Hải Y và anh Đinh Xuân P cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

. Hành vi của bị cáo gây ra là nghiêm trọ ng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh đến trật tự, an toàn công cộng, nếp sống văn hóa trong khu dân cư, gây dư luận bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do lười lao động mà vẫn muốn có tiền tiêu sài cá nhân đã trộm cắp tài sản của người khác. Mặc dù biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện bất chấp quy định của pháp luật.

. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễ n Xuân D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điể m c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây , thì bị phạt tù từ 02 năm đế n 07 năm:

a) Có tổ chức;

b/ Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị gitaứ̀ 50.000.000 đồng đến dưới2 00.000.000 đồng;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo đã 03 lầ n thự c hiệ n hà nh vi trộ m cắ p tà i sả n trong cá c ngà y 18/5 và 07/6/2021 do đó bị cá o phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lầ n trở lên theo quy định tại điể m g khoả n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải; bản thân bị cáo còn tự khai ra hai lầ n phạ m tộ i và o ngà y 18/5/2021 trướ c khi cá c bị hạ i có đơn tố giá c tộ i phạ m đế n cơ quan điề u tra , đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, từ trướ c đế n nay chưa phạ m tộ i.

. Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo Diệ u sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy bị cáo không thể tự cải tạo, do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như công tác đầu tranh phòng chố ng tộ i phạ m nó i chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập khi có khi không, bản thân còn phải chăm lo cho gia đình 02 con nhỏ . Do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông Vũ Thế H, anh Vũ Văn M, anh Nguyễ n Minh T và chị Vũ Thị L đã nhận lại được tài sản, tài sản có hư hỏng không lớ n. Vì vậ y ông H, anh M, anh T, chị L không yêu cầu gì về bồi thường trách nhiệm dân sự và anh Đặng XuânN cũng không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 2.000.000đ anh đã bỏ ra mua số tà i sả n do bị cá o trộ m cắ p nên không đặt ra giải quyết.

. Trong vụ án này còn có:

. Việ c anh Đặ ng Xuân N và anh Nguyễ n Văn Q là người đã mua tài sản và cho gửi tài sản do Nguyễn Xuân D trộ m cắ p đượ c. Tuy nhiên họ khi mua cũng như khi cho gửi nhờ không biết đây là tài sả n do D trộ m cắ p mà có vì vậ y Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Tiề n Hả i không truy cứ u trá ch nhiệ m hì nh sự đố i vớ i anh N, anh Q là có căn cứ.

. Việ c anh Nguyễ n Văn Q, chị Trịnh Thùy L1 và chị Phạm Thanh H là người đi cùng D ngày 07/6/2021, tuy nhiên cá c anh , chị này đều không biết , không tham gia giú p sứ c, xúi giục hay hưởng lợi gì từ việc Diệu trộm cắp tài sả n của chị Vũ Thị L tại khách sạn Hoàng Lê . Sau khi biế t D trộ m cắ p tài sản còn độ ng viên D mang tà i sả n trộ m cắ p trả cho bị hạ i nên Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Tiề n Hả i không truy cứ u đố i vớ i anh Q, chị L1, chị H là có căn cứ.

. Về xử lý vật chứng: 01 thanh kim loạ i chữ T dà i 14cm; 01 kìm hai gọng bằng kim loại dài 16,5cm đượ c quấ n băng dí nh mà u đen ; 01 mỏ lết bằng kim loạ i dà i 15cm, cán cầm quấn băng dính đen; 01 chiếc cờ lê bằng kim loại cỡ 08 - 12 do bị cáo tự nguyệ n giao nộ p, đây là tài sản của bị cáo và chị Vũ Thị L . Bị cáo không đề nghị xin lạ i , chị Vũ Thị L không đề nghị xin lạ i do đã qua sử dụng, giá trị không lớn . Mặ t khá c cá c tà i sả n nà y không cò n giá trị sử dụ ng vì vậ y cần tịch thu, tiêu hủy. 01 điệ n thoạ i di độ ng Realme C 1 màu đen của bị cáo không liên quan đế n tộ i phạ m, bị cáo đề nghị xin lại do đó cần trả lại cho bị cáo . Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng BKS: 17B8 - 223.xx; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter mà u xanh trắ ng BKS 17B8 - 035.yy; 01 xe mô tô nhã n hiệ u Moto Star mà u trắ ng , không có yế m, không có biể n kiể m soá t ; 01 máy cân bằng tia Laser , 01 máy cắt đĩa, 01 máy đục bê tông , 01 máy khoan bắ t ví t cầ m tay, 01 đầ u thu Camera, 01 đầ u chia cổ ng Camera đây là cá c tà i sả n hợ p phá p củ a cá c chủ sở hữ u nên Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Tiề n Hả i đã trả lại cho các bị hại là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Xuân D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Áp dụng điể m c Khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; điể m g khoả n 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngày bắ t tạ m giam 10/6/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại bị cáo Nguyễn Xuân D 01 điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Realme C1 màu đen đã qua sử dụng.

- Tịch thu, tiêu hủ y 01 thanh kim loạ i chữ T dà i 14cm; 01 mỏ lết bằ ng kim loại dài 15cm, cán cầm quấn băng dính đen ; 01 kìm hai gọng bằng kim loại dài 16,5cm đượ c quấ n băng dí nh mà u đen; 01 chiếc cờ lê bằng kim loại cỡ 08 - 12.

Toàn bộ vật chứng hiện do Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình quản lý có đặc điểm theo biên bản giao nhận ngày 24/8/2021.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễ n Xuân D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Vắng mặt nhữ ng bị hại, ngườ i liên quan báo cho bị hại, ngườ i liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong thờ i hạ n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ