- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2021/HS-ST Ngày: 29-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Văn Út.
2. Ông Nguyễn Thành Công.
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Cẩm Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Minh Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2021/TLST-HS, ngày 22 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2021/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Thanh H, sinh năm 1983, giới tính: Nam (có mặt).
Nơi cư trú: thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn C và bà Bùi Thị N; Vợ Hoàng Thị Kiều T, sinh năm 1986 (đã ly hôn); con có 01 người sinh năm 2005; Tiền án: Có 01 tiền án. Ngày 25 tháng 12 năm 2019 Lê Thanh H bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05 tháng 02 năm 2021, Lê Thanh H chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Có 01 tiền sự. Ngày 22 tháng 11 năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 02 (hai) năm. Đến ngày 25 tháng 5 năm 2019, chấp hành xong Quyết định (được miễn 06 tháng). Bị bắt tạm giam từ ngày 07/5/2021 cho đến nay.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Thanh H: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1952. Nơi cư trú: ấp L, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh H: ông Trương Hoàng P Luật sư Văn phòng Luật sư Trương Hoàng P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người bị hại: bà Trần Thị B, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp B, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (yêu cầu xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị S, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp C, xã H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (yêu cầu xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
1/. ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1979 (yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
2/. ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1950 (yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
3/. ông Lê Quang A, sinh năm 1963 (yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
4/. ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 (yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
5/. Bà Trương Thị C, sinh năm 1956 (yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 28 tháng 3 năm 2021, bị cáo Lê Thanh H, sinh năm 1983, nơi cư trú: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh đi bộ đến quán giải khát Hoa M tọa lạc thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh do bà Trần Thị B, sinh năm 1988, nơi cư trú: ấp B, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh làm chủ (mặt bằng quán do bà Trần Thị B thuê của ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1950, nơi cư trú: thị trấn C, huyện C). Lúc này, bà B ngồi ghế đá trước quán cùng con trai tên Trần Quang T, sinh năm 2018, tay đang cầm điện thoại di dộng hiệu Oppo ReNo 3 màu xanh, màn hình cảm ứng nói chuyện qua mạng xã hội Zalo với người thân. Đồng thời, bà Trần Thị S, sinh năm 1983, nơi cư trú: ấp C, xã H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh là chị ruột của bà B phụ giúp bà B bán quán cũng có mặt bên trong quán. Tại quán lúc này, có ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1979, nơi cư trú: thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh là khách đến uống nước nằm võng bên trong. Do có mâu thuẫn cá nhân trước đó với bà B và bà S, bị cáo H từ ngoài bước đến vị trí bà B đang ngồi, dùng tay phải chụp lấy điện thoại di động bà B đang cầm rồi ném mạnh điện thoại di động xuống nền xi măng gây hư hỏng hoàn toàn. Bà B hoảng sợ ẳm (bế) con đứng lên và kêu cứu, bị cáo H dùng tay phải nắm cổ áo bà B, tay trái đánh vào vùng mặt bên phải bà B trúng hai cái. Nghe tiếng kêu của bà B, bà Trần Thị S từ nhà bếp bước lên, thấy bị cáo H nắm cổ áo bà B nên bà S la lên, bị cáo nhìn thấy bà S thì buông bà B ra, bà B ẳm (bế) con bỏ chạy qua nhà ông Nguyễn Minh T giáp ranh với quán để tránh né, bị cáo chạy vào quầy tiếp tân chụp lấy nhiều chai nước giải khát vỏ bằng thủy tinh chưa qua sử dụng ném theo bà B nhưng không trúng. Riêng bà S khi thấy bị cáo buông bà B ra thì bà S cũng bỏ chạy ra khỏi quán bằng cửa bên hông quán, bị cáo lấy nhiều chai nước giải khát vỏ bằng thủy tinh chưa qua sử dụng ném theo làm vỡ chai nhưng không trúng, mảnh vỡ thủy tinh văng vào chân bà S gây xây xát nhẹ. Tổng cộng bị cáo ném vỡ hoàn toàn 08 (tám) chai nước giải khát vỏ bằng thủy tinh chưa qua sử dụng, gồm hai chai hiệu 7 Up, mỗi chai dung tích 285ml; Hai chai Sting energy, dung tích mỗi chai 240 ml; Hai chai sữa đậu nành number 1 Soya, mỗi chai dung tích 240ml; Hai chai number 1, mỗi chai dung tích 240ml. Sau khi bà B và bà S bỏ chạy, bị cáo H ra khỏi quán bỏ đi, sự việc được trình báo đến Cơ quan Công an.
- Về vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thu giữ:
+ 01 (một) điện thoại di dộng đã qua sử dụng hiệu Oppo ReNo 3 màu xanh, màn hình cảm ứng, điện thoại bị hư hỏng hoàn toàn.
+ Nhiều mảnh vỡ thủy tinh của các chai nước giải khát.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 36/KL-ĐGTS ngày 06 tháng 4 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện C xác định giá trị tài sản bị xâm hại ngày 28 tháng 3 năm 2021 của bà Trần Thị B là một điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Oppo ReNo 3 màu xanh, màn hình cảm ứng, điện thoại bị hư hỏng hoàn toàn có giá trị 5.800.000 đồng (năm triệu tám trăm ngàn đồng).
Ngày 25 tháng 5 năm 2021, Cơ quan điều tra yêu cầu định giá tài sản tám chai nước giải khát vỏ thủy tinh chưa qua sử dụng bị hư hỏng hoàn toàn. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 48/KL-ĐGTS ngày 26 tháng 5 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện C xác định giá trị tài sản bị xâm hại ngày 28 tháng 3 năm 2021 của bà Trần Thị B là 46.000 đồng (bốn mươi sáu ngàn đồng).
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Thanh H có biểu hiện bệnh tâm thần, ngày 24 tháng 5 năm 2021 Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với Lê Thanh H. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 134/2021/KLGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận:
- Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy (F19.71–ICD10).
- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
- Về năng lực trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Trong quá trình điều tra, Lê Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội hủy hoại tài sản của mình như nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số: 51/CT-VKS-HS, ngày 22/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội Hủy hoại tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Thanh H, hoàn toàn thống nhất với nội dung Bản cáo trạng của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện C và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28 tháng 3 năm 2021 tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Lê Thanh H đã dùng tay giật điện thoại hiệu OPPO của bà Trần Thị B ném xuống nền xi măng và đập bể 08 chai nước ngọt, với tổng số tiền thiệt hại là 5.846.000 đồng.
Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; Điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thanh H từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày 07/5/2021. Về trách nhiệm bồi thường dân sự buộc bị cáo Lê Thanh H bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị B số tiền 5.800.000 đồng. Ngoài ra, Vị còn đề nghị xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh H: Thống nhất bản cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo Lê Thanh H về tội hủy hoại tài sản là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thiệt hại tài sản không lớn, bản thân bị cáo bị nhiễm HIV, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, thân nhân bị cáo có công với cách mạng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo H.
Qua quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa vẫn bảo lưu quan điểm không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo Lê Thanh H xin Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đồng thời vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo Lê Thanh H, người bào chữa cho bị cáo yêu cầu tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án theo Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, vì không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những đương sự trong vụ án được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đồng thời thống nhất với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Trà Vinh. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Lời nhận tội của bị cáo Lê Thanh H tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra Công an huyện C thu thập có được.
Do vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh quyết định truy tố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp với qui định của pháp luật, không oan, không sai.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thanh H là nguy hiểm cho xã hội; Bởi vì, tài sản của công dân bao gồm tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, phương tiện đi lại, điện thoại,… là do quá trình lao động mới có được. Bị cáo là người có đủ sức khỏe lao động tạo ra nguồn thu nhập, phục vụ nhu cầu cuộc sống bản thân và gia đình, nhưng không lo chí thú làm ăn, do thù tức cá nhân, muốn hủy hoại tài sản của người khác. Cụ thể vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28 tháng 3 năm 2021 tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Lê Thanh H đã dùng tay giật điện thoại hiệu OPPO của bà Trần Thị B ném xuống nền xi măng và đập bể 08 chai nước ngọt, với tổng số tiền thiệt hại là 5.846.000 đồng.
[5] Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, mặc dù thiệt hại tài sản không lớn. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại bị nghiêm trị. Bản thân bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ thù tức cá nhân, khi thấy bị hại cầm điện thoại di động bị cáo giật lấy ném mạnh xuống nền xi măng và ném vở tám chai nước giải khát bằng thủy tinh gây hư hỏng hoàn toàn. Bản thân bị cáo có 01 tiền án. Ngày 25 tháng 12 năm 2019 Lê Thanh H bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05 tháng 02 năm 2021, Lê Thanh H chấp hành xong hình phạt tù; Có 01 tiền sự. Ngày 22 tháng 11 năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 02 (hai) năm. Đến ngày 25 tháng 5 năm 2019, chấp hành xong Quyết định (được miễn 06 tháng), chưa được xóa án tích. Nên lần phạm tội này là thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự. Đáng lẽ ra, sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo phải biết ăn năn, hối cải, chí thú làm ăn nhưng không biết sửa chữa, chỉ vì thù tức cá nhân muốn hủy hoại tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo Lê Thanh H rất xem thường pháp luật và thuộc thành phần khó cải tạo, đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương mà còn gây hoang mang trong đời sống của quần chúng nhân dân.
[6] Để góp phần ổn định tình hình trật tự tại địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử cần lên cho bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo và tính chất của vụ án, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thiệt hại tài sản không lớn, bản thân bị cáo bị nhiễm HIV, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, thân nhân bị cáo có công với cách mạng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là những căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Do đó ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ 01 phần được chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người bị hại bà Trần Thị B yêu cầu bị cáo Lê Thanh H phải bồi thường tài sản bị thiệt hại là 01 điện thoại di động hiệu Oppo ReNo3 với số tiền 5.800.000 đồng, riêng thiệt hại 08 chai nước giải khác bà Trần Thị B không yêu cầu bồi thường. Tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh H đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại bà Trần Thị B số tiền 5.800.000 đồng.
[8] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ: 01 (một) điện thoại di dộng đã qua sử dụng hiệu Oppo ReNo 3 màu xanh, màn hình cảm ứng, điện thoại bị hư hỏng hoàn toàn được trả lại cho người bị hại bà Trần Thị B; Nhiều mảnh vỡ thủy tinh của các chai nước giải khát do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thanh H phải chịu án phí dân sự và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ: Điều 268 và Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 178; Điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 53 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 07/5/2021.
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 588, 589 và khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ Luật dân sự.
Buộc bị cáo Lê Thanh H bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị B số tiền 5.800.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Nhiều mảnh vỡ thủy tinh của các chai nước giải khát.
Trả lại cho bị hại bà Trần Thị B 01 (một) điện thoại di dộng đã qua sử dụng hiệu Oppo ReNo 3 màu xanh, màn hình cảm ứng, điện thoại bị hư hỏng hoàn toàn.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 147 bộ luật tố tụng dân sự, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Lê Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được biết có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 06; Điều 07 và Điều 09 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện, tỉnh; - CCTHADS huyện Càng Long; - Công an huyện Càng Long; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Lê Thị Trúc Linh |