- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Kim Thị Mộng C đối với anh Trần Phước H, cho chị Kim Thị Mộng C ly hôn với anh Trần Phước H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:54 /2021/HNGĐ-ST Ngày: 08-11-2021. V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Khon.
2. Ông Nguyễn Quốc Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Võ Thanh Trường Giang – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 tháng 6 và ngày 25 tháng 10, ngày 08 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2021 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXX-ST ngày 07 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Kim Thị Mộng C, sinh năm: 1998;
- Bị đơn: Anh Trần Phước H, sinh năm: 1997;
Cùng nơi cư trú: Ấp 1, xã B, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyên đơn chị C vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh H vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/12/2020, các biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;
- Nguyên đơn chị Kim Thị Mộng C trình bày: Chị C và anh H tự nguyện quen biết và tìm hiểu, được sự đồng ý của gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2016, đăng ký kết hôn ngày 26/02/2018 tại Ủy ban nhân dân xã B. Sau khi kết hôn chị và anh H cùng nhau đi làm công nhân ở Bình Dương, cuộc sống hạnh phúc được 03 năm, sau đó phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống thường hay cãi vã. Chị C đã nhiều lần hàn gắn tình cảm với anh H nhưng anh H không có thiện chí hàn gắn, anh H tự bỏ nhà đi sống một mình và ly thân từ tháng 03/2020 cho đến nay. Trong quá trình chung sống có con chung tên Trần Phước T, sinh ngày 28/8/2017, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay chị Kim Thị Mộng C yêu cầu: Ly hôn với anh Trần Phước H, con chung yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Phước T, không yêu cầu anh H cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Trần Phước H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H không cung cấp văn bản ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện của chị C, cũng như tham dự phiên hòa giải và phiên tòa nên tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh H về yêu cầu khởi kiện của chị C.
Tại phiên tòa kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, trước khi xét xử chị C có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định. Bị đơn anh H chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Kim Thị Mộng C đối với anh Trần Phước H. Về con chung giao cháu Trần Phước T, sinh ngày 28/8/2017 cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến trưởng thành, anh H không cấp dưỡng nuôi con do chị C không có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1.] Về pháp luật tố tụng:
[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trần Phước H, hiện nay đăng ký hộ khẩu thường trú ấp 1, xã B, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị C và anh H, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị C yêu cầu ly hôn với anh H, yêu cầu nuôi con, nên phát sinh tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3.] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
[1.4.] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị C vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh H vắng mặt lần thứ 2 không nêu lý do chính đáng. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn chị C vắng mặt có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh H cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị C và anh H là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2.] Về nội dung vụ án:
[2.1.] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị C và anh H là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định, nhưng trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh chị và gia đình hai bên không tìm cách giải quyết và hàn gắn tình cảm. Xuất phát từ mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống thường hay cự cãi nhưng không tìm được cách giải quyết, dẫn đến mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, nên không thể hàn gắn đoàn tụ.
Nay chị C yêu cầu ly hôn với anh H, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện, không ai cưởng ép hay ép buộc, cả hai phải tôn trọng, giúp đở, chăm sóc, giữ gìn hạnh phúc gia đình, để nuôi dạy con, nhưng giữa chị C và anh H không có sự gắn kết, không có tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, mâu thuẩn trầm trọng, kéo dài. Mặt khác, chị C và anh H đã ly thân từ tháng 03/2020 đến nay, anh H đã được Tòa án thông báo hòa giải 02 lần để tạo cơ hội cho anh chị hàn gắn tình cảm, nhưng anh H không đến, từ đó cho thấy anh H không muốn hàn gắn đoàn tụ với chị C.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Kim Thị Mộng C đối với anh Trần Phước H phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2.] Về con chung:
[2.2.1.] Về nuôi con chung chưa thành niên: Con chung tên Trần Phước T, sinh ngày 28/8/2017, chị C yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh H không có ý kiến hay yêu cầu về việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng cho con chung. Hiện nay cháu T đang do chị C chăm sóc, nuôi dưỡng và đã được 04 tuổi. Để đảm bảo cho cháu T có cuộc sống ổn định, phát triển tốt, không gây ảnh hưởng về mặt tâm lý cho cháu khi cha mẹ ly hôn, ổn định việc học, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cháu và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên sau khi ly hôn.
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị C đối với anh H, tiếp tục giao cháu Trần Phước T, sinh ngày 28/8/2017 cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu T không ai được cản trở.
[2.2.2.] Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị C không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3.] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4.] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Kim Thị Mộng C phải chịu án phí hôn nhân gia đình là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn anh Trần Phước H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[3.] Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phù hợp với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Kim Thị Mộng C đối với anh Trần Phước H, cho chị Kim Thị Mộng C ly hôn với anh Trần Phước H.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Phước T, sinh ngày 28/8/2017 cho chị Kim Thị Mộng C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Trần Phước H không phải cấp dưỡng cho cháu Trần Phước T do chị Kim Thị Mộng C không có yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh H không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh H.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Kim Thị Mộng C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị C đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BI/2019-0011082 ngày 19/02/2021, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị C không phải nộp thêm.
Bị đơn anh Trần Phước H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 08/11/2021). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKS ND huyện; - Chi cục THA DS huyện; - Tòa án ND tỉnh; - Cổng TTĐT Tòa án; - UBND xã Bình Tấn; - Lưu: VT/, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lý Thị Bích Thơ |