vanban.org

Bản án 54/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củaỦy ban thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của bà Nhâm Thị Huệ V đối với ông Nguyễn HoàngT. Xử cho bà Nhâm ThịHuệ V được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củaỦy ban thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụngdân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụngdân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 17-5-2021
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhậm

Ông Nguyễn Văn Hươn

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hồng –Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 645/2020/TLST-HNGĐ ngày05 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 74/2021/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nhâm Thị Huệ V, sinh năm 1991.

HKTT: Số 88, Khóm 3, Phường8, thành phố Sóc Trăng.

Tạm trú: Tổ 50, Ấp 4, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1987.

HKTT: Tổ 6, Ấp 1, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Bà V, ông T vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 25/9/2020 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn bà Nhâm Thị Huệ V trình bày: Bà và ông Nguyễn Hoàng T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện L, tỉnh ĐồngNai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 20 tháng 4 năm 2018. Việc kết hôn do bà và ông T đều tự nguyện. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T. Nguyên nhân bà V yêu cầu ly hôn là do vợ chồngchungsống không hạnhphúc, ông T thường xuyên nhậu nhẹt không lo cho gia đình. Ngoài ra, ông T còn có hành vi đánh đập gây thương tích cho bà V theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 61/QĐ-XPVPHC ngày 09/9/2020 củaCông an xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 7/2019 đến nay. Hiện bà V xác định không còn tình cảm với ông T, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên yêu cầu được giải quyết ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà V và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Khánh V, sinh ngày 12/5/2019. Nếu ly hôn bà V có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà V khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà V đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T vắng mặt nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trongquá trìnhgiải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thưký phiên tòa và nguyên đơn là đúng quy định củapháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T khôngthực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theoquy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V; giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng Khánh V, sinh ngày 12/5/2019 cho bà V nuôi dưỡng, bà V nuôi con không yêu cầu ông T cấp dưỡng nên khôngxem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nhâm Thị Huệ V có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên Tòa và giấy triệu tập nhưngông T vắng mặt khôngcó lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn bà V và bị đơn ông T.

Về quan hệhôn nhân: Bà Nhâm Thị Huệ V và ông Nguyễn Hoàng T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện L, tỉnh ĐồngNai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 20 tháng 4 năm 2018 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theoĐiều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho ông T biết để đến Tòa làm việc nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do, do đó không có lời khai của ông T tại hồ sơ.

Bà V khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông T với lý do vợ chồng chung sống không hạnh phúc do ông T thườngxuyên nhậu nhẹt không lo cho gia đình và nhiều lần đánh đập bà. Qua biên bản xác minh ghi ngày 23/12/2020 do Công an xã T, huyện L, tỉnh ĐồngNai cungcấp, thể hiện quátrình chung sống bà V và ông T thường xuyên cãi vã, xô xát nhau và ông T đã được Công an xã T, huyện L ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chínhsố 61/QĐ- XPVPHC ngày 09/9/2020 về hành vi đánh đập gây thương tích chobà V. Hơn nữa, giữa bà V và ông T đã có thời gian dài sống ly thân nhau từ tháng 7/2019 đến nay nhưng không bàn bạc đoàn tụ được. Do đó, xác định bà V và ông T đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sốngchung không thểkéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V, xử cho bà V được ly hôn ôngT là phù hợp với quy định tạikhoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Bà V và ông T có 01 người con chung là cháu Nguyễn HoàngKhánhV, sinh ngày 12/5/2019. Bà V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung. Xét thời gian qua bà V nuôi con tốt, ông T không có ý kiến phản ánh hayyêu cầu gì đối với việc nuôi con chungcủa bà V tại địa phương cũng nhưtại Tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu V cho bà V tiếp tục nuôidưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà V nuôi con khôngyêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên khôngxét.

Về tài sản chungvà nợ chung: Các đươngsự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên khôngxem xét.

Về án phí: Bà Nhâm Thị Huệ V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều28, Điều 35, Điều 39, Điều174, Điều 227, Điều 228 và Điều 273Bộ luật Tố tụngdân sự;

Áp dụng Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củaỦy ban thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của bà Nhâm Thị Huệ V đối với ông Nguyễn HoàngT.

Xử cho bà Nhâm ThịHuệ V được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng Khánh V, sinh ngày 12/5/2019 cho bà Nhâm Thị Huệ V trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời ông Nguyễn Hoàng T khôngcấp dưỡngnuôi con.

Ông T được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đươngsự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nghĩavụ cấp dưỡng và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡngnuôi con theo quy định tại Điều 84, Điều 110 và Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nợ chung:Khôngxem xét.

2. Về án phí: Bà Nhâm Thị Huệ V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình n hưng được trừ vào số tiền tạm ứngán phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004606 ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Chi cục thihành án dân sự huyện Long Thành. Bà V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Bà V và ông T được quyền khángcáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theoquy định củaBộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ