vanban.org

Bản án 54/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Trúc Nh được ly hôn với anh Đặng Kim Hoàng Kh.

Về nuôi con chung: Căn cứ vào Điều 58; Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; 1. Giao con chung là Đặng Trần Thiên U, sinh ngày 22/3/2019 cho chị Nh trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRẦN THỊ TRÚC NH - ĐẶNG KIM HOÀNG KH"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Trúc Nh được ly hôn với anh Đặng Kim Hoàng Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 10-9-2021.
V/v: “Kiện ly hôn và tranh
chấp nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Vũ.

Các hội thẩm nhân dân:

1, Ông Hoàng Tuyển.

2, Ông Vũ Xuân Thụ.

-Thư ký phiên Tòa: Bà Đặng Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Ksơr Y Kơn – Kiểm sát viên.

Ngày 10/9/2021 tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 181/2021/TLST-HNGĐ ngày 13/5/2021 về việc “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02/8/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 29/2021/QĐST-HNGĐ ngày 19/8/2021, giữa:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Trúc Nh, sinh năm: 1991. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk.

Bị đơn: Anh Đặng Kim Hoàng Kh, sinh năm 1990. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Nh là nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nh và anh Kh về sống chung với nhau từ năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau khi về sống chung hạnh phúc được hơn một năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, không có chung quan điểm, cách sống và suy nghĩa khác nhau, nên đã xảy ra nhiều cuộc cãi vã làm mất tình cảm vợ chồng, hiện chị Nh và anh Kh đã sống ly thân với nhau, cuộc sống không thể kéo dài được nữa, nay chị Nh yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Nh ly hôn với anh Kh.

Về con chung: Chị Nh và anh Kh có 01 con chung là Đặng Trần Thiên U, sinh ngày 22/3/2019. Sau khi sống ly thân, chị Nh là người nuôi con chung, nay ly hôn chị Nh có nguyện vọng tiếp tục được nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại chị Nh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Nh không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung.

Quá trình điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ anh Đặng Kim Hoàng Kh là bị đơn: Cố tình lẩn tránh, không hợp tác nên không ghi nhận được ý kiến của anh Kh và anh Kh cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nh.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa khẳng định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng trình tự theo quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự do chủ tọa phiên tòa đã công bố tại phiên tòa thể hiện việc chị Trần Thị Trúc Nh khởi kiện yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Cho chị Nh ly hôn với anh Kh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Pháp luật về tố tụng: Việc chị Trần Thị Trúc Nh khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đặng Kim Hoàng Kh, Toà án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập các đương sự đến Tòa án để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Kh vẫn vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên Tòa án không thể tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự được mà tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi anh Kh cư trú. Theo quy định tại khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn chị Nh có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

. Pháp luật về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Trúc Nh và anh Đặng Kim Hoàng Kh về sống chung với nhau từ năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk, theo giấy chứng nhận kết hôn số 27/2017/KH ngày 13/02/2017. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, không có chung quan điểm, cách sống và suy nghĩ khác nhau, nên đã xảy ra nhiều cuộc cãi vã, cuối năm 2019 thì chị Nh và anh Kh đã sống ly thân, hiện cuộc sống không thể kéo dài được nữa, nay chị Nh yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Nh ly hôn với anh Kh.

Căn cứ vào lời khai của đương sự và qua xác minh tại chính quyền địa phương thì chị Nh và anh Kh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại hai người đã sống ly thân. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nh và anh Kh ngày càng trầm trọng, giữa hai người không còn thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại. Vì vậy, việc chị Nh yêu cầu ly hôn với anh Kh là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

Về con chung: Chị Nh và anh Kh có 01 con chung, sau khi sống ly thân chị Nh là người nuôi con chung. Xét nguyện vọng và khả năng nuôi con chung của chị Nh, cần tiếp tục giao con chung là Đặng Trần Thiên U, sinh ngày 22/3/2019 cho chị Nh trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại chị Nh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập giải quyết.

Anh Kh có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nợ chung: Chị Nh không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.

. Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Trúc Nh được ly hôn với anh Đặng Kim Hoàng Kh.

2. Về nuôi con chung: Căn cứ vào Điều 58; Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình;

2.1. Giao con chung là Đặng Trần Thiên U, sinh ngày 22/3/2019 cho chị Nh trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại ch Nhi không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập giải quyết.

Anh Kh có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Nh không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 19; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;

Chị Trần Thị Trúc Nh phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea H’Leo theo biên lai số AA/2021/0000131 ngày 11/5/2021.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ