- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 54/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05-02-2021 V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Mừng;
2. Bà Nguyễn Thị Ly.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 834/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 622/2020/QĐXX-ST ngày 28 tháng 12 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2021/QĐTS-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ 4, ấp VĐ, xã VT, huyện TB, tỉnh An Giang (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm T Đ, sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp LH, xã LĐB, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà và ông Phạm T Đ cưới nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã LĐB hôn nhân do ông bà tự tìm hiểu và đươc cha mẹ đồng ý. Thời gian chung sống vợ chồng thường hay mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, chồng uống rượu nên vợ chồng cự cãi và sống ly thân khoảng 02 năm nay. Bà xác định tình cảm không còn yêu cầu ly hôn với Phạm T Đ; về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/10/2010 và Phạm T Đ , sinh năm 09/9/2015 hiện nay chồng đang chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà đồng ý để chồng được tiếp tục nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: không có.
Bị đơn ông Phạm T Đ đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt không lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông về nội dung đơn khởi kiện của bà H.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Đối với nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với bị đơn: Ông Phạm T Đ, từ khi thụ lý và tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm T Đ tự tìm hiểu và kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐB , là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm, chồng thường uống rượu nên vợ chồng cự cãi, và ly thân. Nay, bà H yêu cầu ly hôn với ông Đ.
Xét thấy, ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà H. Mặc khác, bà H xác định không còn tình cảm với ông Đ và kiên quyết ly hôn nên mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông Đ.
+ Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/10/2010 và Phạm T Đ , sinh năm 09/9/2015. Hiện, các cháu đang sống với ông Đ, bà H đồng ý để ông Đ tiếp tục nuôi 02 con, không cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, Tòa án đã tiến hành yêu cầu ông Đ đưa hai cháu T, Đ đến Tòa án để ghi nhận ý kiến nhưng ông Đ không thực hiện. Mặc khác, hiện nay hai cháu T, Đ không có ở địa phương, bà H đồng ý giao hai con cho ông Đ nuôi dưỡng, ông Đ không có ý kiến, nên cần ổn định cuộc sống cho các cháu, tiếp tục giao cháu T, Đ cho ông Đ chăm sóc nuôi dưỡng. Do ông Đ không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, xem xét quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Phạm T Đ.
- Ông Phạm T Đ được tiếp tục nuôi con 02 chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/10/2010 và Phạm T Đ , sinh năm 09/9/2015. Bà Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị H khởi kiện ly hôn với ông Phạm T Đ. Ông Đ có nơi cư trú ấp LH, xã LĐB, huyện CM, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Ông Phạm T Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm T Đ xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2009 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Thời gian chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà H trình bày vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, chồng uống rượu nên vợ chồng cự cãi và sống ly thân khoảng 02 năm. Bà xác định tình cảm không thể tồn tại và hàn gắn được; cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Phạm T Đ. Hội đồng xét xử xét thấy, ông Phạm T Đ đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của bà H và vắng mặt không lý do. Điều này thể hiện vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị H xác định vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/10/2010 và Phạm T Đ , sinh ngày 09/9/2015 hiện đang sống với ông Đ. Bà H đồng ý để chồng tiếp tục nuôi 02 con chung. Hội đồng xét xử xét thấy từ lúc vợ chồng ly thân đến nay ông Đ là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên tình cảm tâm tư gắn liền với người nuôi dưỡng. Tòa án đã yêu cầu ông Đ đưa cháu T đến Tòa án để ghi nhận ý kiến nhưng ông Đ không thực hiện. Mặc khác, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ tại địa phương, cháu T vắng mặt tại nhà nên không ghi nhận được ý kiến của cháu và hiện nay cháu do ông Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, bà H đồng ý giao hai con cho ông Đ nuôi dưỡng, ông Đ không có ý kiến, nên cần ổn định cuộc sống cho các cháu, tiếp tục giao cháu T, Đ cho ông Đ chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình. Do ông Đ không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến.
Về tài sản chung và nợ chung: Do bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các Điều 28, 35, 39,144, 147, 227, 235 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H và xử như sau:
Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phạm T Đ. Giấy chứng nhận kết hôn số 74 do Ủy ban nhân dân xã LĐB, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 20/4/2015 không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Ông Phạm T Đ được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 21/10/2010 và Phạm T Đ , sinh ngày 09/9/2015. Bà Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Phạm T Đ cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013757 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 27/10/2020. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H. CM; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. CM; - UBND xã LĐB, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã Phạm Văn D ng |