- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Văn L khởi kiện Chủ tịch UBND thành phố H, Chủ tịch và quận"
- Tòa quyết gì? Luật Phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 89 Luật Đất đai; Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------- Bản án số: 54/2021/HC-ST Ngày: 30/3/2021 V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều T
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Vũ Thị Tuyết M
Ông Nguyễn Việt Cư
Thư kýphiêntòa: Ông Trần MinhH– Thư ký Tòa ánnhân dân TP H .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Thị Tuyết M - Kiểm sát viên.
Ngày 26,30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H ,
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 43/2020/HCST ngày 02/3/2020 về yêu cầu hủy Quyết định 1442/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B v/v phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ chi tiết; Quyết định 3387/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B v/v giải quyết khiếu nại (lần đầu); Quyết định 6926/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND Thành phố H v/v giải quyết khiếu nại (lần hai) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HC ngày 5/3/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2021/QĐHPT-HC ngày 16/3/2021 giữa các đương sự:
Ngƣời khởi kiện: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tổ dân phố
Yên N 2, phường Liên M , quận B , thành phố H (có mặt)
Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Phan H, sinh năm 1951; ông Nguyễn Văn
N, sinh năm 1994. Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Trung 6, phường T, quận B , thành phố H (có mặt) theo văn bản ủy quyền số công chứng 447.2021/HĐ-UQ ngày 15/1/2021 Văn phòng Công chứng T
Ngƣời bị kiện: y an nhân dân quận B thành ph Ha.
Địa chỉ trụ sở: Phường Phúc D, quận B , thành phố H
Đại diện pháp lu t: Ông Lưu Ngọc H, ch c vụ: Chủ tịch (v ng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Cao Ngọc H, ch c vụ:
Chuyên viên phòng Tài nguyên môi trường UBND quận B (v ng mặt).
Ch tịch y an nhân dân quận B thành ph Hà Nội
Địa chỉ trụ sở: Phường Phúc D, quận B , thành phố H
Đại diện pháp lu t: Ông Lưu Ngọc H, ch c vụ: Chủ tịch (v ng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Cao Ngọc H, ch c vụ:
Chuyên viên phòng Tài nguyên môi trường UBND quận B (v ng mặt).
3 Ch tịch y an nhân dân thành ph H
Địa chỉ trụ sở: Số 79 Đinh Tiên Hoàng, phường L, quận H, thành phố H
Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Trọng Đ, ch c vụ: Phó Chủ tịch (v ng
mặt) theo văn bản ủy quyền số 03/GUQ-UBND ngày 11/1/2021
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
y an nhân dân phường Liên M quận B
Địa chỉ trụ sở: Số 55 Yên N, phường Liên M , quận B , thành phố H
Đại diện ủy quyền: Ông Đoàn Mạnh H, ch c vụ: Phó Chủ tịch (v ng mặt)
theo văn bản ủy quyền số 475/QĐ-UBND ngày 23/12/2020
Hợp tác xã Yên N
Địa chỉ trụ sở: Số 110/1 đường Liên M , TDP Yên N 3, phường Liên M ,
quận B , thành phố H
Đại diện pháp lu t : Ông Nguyễn Văn C, ch c vụ: Giám đốc (v ng mặt)
3 4 5: Bà Nguyễn Thị H (SN 1961) anh Nguyễn Văn Nh (SN 1985) chị
Nguyễn Thị M (SN 1989)
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Yên N 2, phường Liên M , quận B , thành phố H
(v ng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện trình ày: Năm 1981, gia đình ông được HTX Yên N
giao diện tích đất nông nghiệp (bao gồm đất cấy lúa, đất trồng màu khu bãi và khu sống cao) để sản xuất theo mô hình kinh tế hộ (có xác nhận của HTX Yên N) với diện tích: 1626m2. Năm 2000, gia đình ông đã được cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 1254m2, cụ thể:
- Thửa đất số 182, tờ bản đồ 15, diện tích 402 m2
- Thửa đất số 144, tờ bản đồ 15, diện tích 348 m2
- Thửa đất số 625, tờ bản đồ 16, diện tích 504 m2
Ngoài ra, gia đình ông còn có diện tích 372 m2 thuộc thửa đất số 605, tờ bản
đồ số 16 cũng được giao từ năm 1981 nhưng chưa được cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất này gia đình ông sử dụng ổn định từ lúc nhận giao khoán đến nay và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước.
Ngày 11/4/2016, UBND quận B ra Quyết định số 1371/QĐ-UBND thu hồi
372 m2 đất gia đình ông được giao để thực hiên dự án Khu công nghệ cao sinh học H trên địa bàn phường Liên M . Cùng ngày, gia đình ông nhận được Quyết định số 1442/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết cho gia đình ông. Cụ thể:
- Bồi thường, hỗ trợ về đất 372m2
: 74.995.200 đồng
- Bồi thường, hỗ trợ về tài sản
: 121.436.373 đồng.
Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường là: 196.431.573
đồng. Số tiền này gia đình ông đến nay chưa nhận.
Không đồng ý với phương án bồi thường, hỗ trợ nên ông đã làm đơn khiếu
nại gửi đến Chủ tịch UBND quận B , thành phố H .
Ngày 12/8/2016, gia đình ông nhận được Quyết định số 3387/QĐ-UBND
của Chủ tịch UBND quận B về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông. Nội dung quyết định này là giữ nguyên Quyết định số 1371/QĐ-UBND và Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B về việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết cho gia đình ông.
Sau khi nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại số 3387/QĐ-UBND ngày
12/8/2016 của Chủ tịch UBND quận B , gia đình đã làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố H .
Đến ngày 22/7/2019, sau gần 3 năm, gia đình ông mới nhận được Quyết định
số 6926/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố H ngày 15/12/2016 về việc giải quyết khiếu nại của gia đình ông. Nội dung quyết định này là đồng ý Quyết định 3387/QĐ-UBND ngày 12/8/2016 của Chủ tịch UBND quận B về việc giải quyết khiếu nại của gia đình ông
Như vậy, việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố H là
không đúng với văn bản số 3599/UBND-ĐCNN ngày 09/6/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố H . Nội dung văn bản quy định, nay là Điểm d khoản 1 điều 19 nghị định 47/2014/NĐ-CP được sửa đổi tại điểm e khoản 1 mục 5 điều 4 nghị định 01/2017/NĐ-CP; Khoản 1 điều 20 nghị định 47/2014/NĐ-CP được sửa đổi tại mục 6 điều 4 nghị định số 01/2017/NĐ-CP.
Kết quả xác minh của thanh tra thành phố: “Diện tích 372m2 có nguồn gốc là
đất nông nghiệp, hộ gia đình ông L sử dụng từ khoán 100, khoán 10 nhưng không nằm trong hạn m c giao đất nông nghiệp theo nghị định số 64/CP của Chính phủ cho hộ gia đình ông L, để sản xuất nông nghiệp cho đến khi Nhà nước thu hồi thực hiện Dự án. Chính quyền địa phương không sử dụng bất kỳ biện pháp gì (thông báo, thu hồi lại, ký hợp đồng thuê thầu…) để quản lý đối với phần diện tích này”. Như vậy nguồn gốc sử dụng đất ông trình bày ở trên phù hợp với kết quả xác minh của thanh tra thành phố H và các quy định pháp luật nêu trên, gia đình ông đủ điều kiện được hỗ trợ, đào tạo chuyển đổi nghề đối với diện tích 372m2 đất bị thu hồi.
Về tài sản trên đất (bể xây, giếng, nhà ni lông, hàng rào thép gai...): Đây đều
là công trình xây dựng phục vụ sản xuất nông nghiệp không có văn bản cho phép của UBND phường Liên M song được UBND phường Liên M tạo điều kiện cho xây dựng mà không xử lý. Do đó, cần áp dụng khoản 2 điều 12 quyết định số 10/2017 của UBND thành phố H để được bồi thường về công trình bằng 100% đơn giá xây dựng nhằm đảm bảo quyền lợi cho gia đình ông.
Từ những căn c pháp luật nêu trên, gia đình ông phải được bồi thường, hỗ
trợ bổ sung như sau:
- Hỗ trợ, đào tạo chuyển đổi nghề: 372m2 x 201.600 đồng x 5 = 374.976.000
đồng;
- Tài sản trên đất:
Gạch xây: 2,78 x 1.315.288 đồng x 20% = 731.300 đồng
Khối lượng trát: (11,43 + 12,42) x 47.291 đồng x 20% = 254.993 đồng
Giếng khoan: 3.209.000 đồng x 0% = 641.800 đồng
Hàng rào lưới thép B40: 248 x 255.000 đồng x 90% = 56.916.000 đồng
Tổng cộng là: 433.520.093 đồng (bốn trăm ba mươi ba triệu năm trăm hai
mươi nghìn không trăm chín mươi ba đồng)
Nay tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố H :
Căn c điểm d khoản 1 điều 19, khoản 1 điều 20 nghị định 47/2014/NĐ-CP
được sửa đổi, bổ sung theo nghị định 01/2017/NĐ-CP; khoản 2 điều 12 quyết định 10/2017 của UBND thành phố H , đề nghị Tòa án nhân dân thành phố H xét xử hủy:
Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B về phê
duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết
Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận
B về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu
Quyết định số 6926/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND thành
phố H về việc giải quyết khiếu nại lần hai
Yêu cầu UBND quận B ra quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ
trợ bổ sung cho gia đình ông số tiền 433.520.093 đồng (bốn trăm ba mươi ba triệu năm trăm hai mươi nghìn không trăm chín mươi ba đồng)
Đại diện UBND quận B và Ch tịch UBND quận B trình bày: Khu x
đồng Sống cao thuộc thôn Yên N xã Liên M , huyện Từ Liêm, thành phố H (nay là TDP Yên N, phường Liên M , quận B , thành phố H ). Tại thời điểm giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, khu đất trên thuộc quỹ đất nông nghiệp được đưa vào để giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, Hợp tác xã Yên N có 02 đội sử dụng diện tích đất ngoài bãi sông H và 01 đội sử dụng đất trong đồng (Khu sống cao), các hộ ý kiến nếu cấp sổ đỏ trong khu sống cao thì phải cấp sổ cho cả khu ngoài bãi sông. Do đó, Hợp tác xã Yên N trước đây đã thống nhất để lại không giao diện tích đất Khu x đồng Sống Cao.
UBND xã Liên M trước đây thực hiện việc giao đất nông nghiệp theo Nghị
định 64/CP của Chính phủ theo hình th c bình quân nhân khẩu trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất của các hộ sử dụng từ khoán 10, khoán 100 và cân đối diện tích hộ thừa cho hộ thiếu. Nhưng khi triển khai việc giao đất nông nghiệp đã không thực hiện được việc cân đối giữa các hộ sử dụng thừa và thiếu so với phương án cho các hộ gia đình, cá nhân. Dẫn đến hiện nay tại phường Liên M vẫn đang sử dụng tồn tại các hộ dân sử dụng thừa và các hộ dân sử dụng thiếu so với phương án.
Diện tích đất thuộc khu x đồng Sống Cao không được thống kê vào hiện trạng sử dụng đất của hộ gia đình ông Nguyễn Văn L tại Phương án giao đất nông nghiệp chi tiết và được xác định là đất nông nghiệp không giao do UBND xã quản lý. Theo phương án giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP của UBND xã Liên M (nay là UBND phường Liên M ), hộ gia đình ông Nguyễn Văn L có 04 nhân khẩu, được giao 1.032 m2 đất nông nghiệp trong tổng số 1.626m2 đất hộ gia đình đang sử dụng. Trên thực tế hộ gia đình ông L được cấp GCN QSD 1254m2 đất nông nghiệp (gồm thửa 182, diện tích 402m2; thửa 144, diện tích 348m2, tờ bản đồ số 15; thửa 625, tờ bản đồ số 16, diện tích 504m2), thừa 222m2 so với phương án được giao.
Hộ gia đình ông Nguyễn Văn L không thực hiện việc kê khai đề nghị giao
đất, cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng tại X đồng Sống Cao và cũng không có khiếu nại, ý kiến về việc giao đất của UBND xã Liên M , UBND huyện T trước đây. Do Hội đồng giao đất nông nghiệp xã Liên M không lập phương án giao đất tại khu x đồng Sống Cao và hộ gia đình ông Nguyễn Văn L không kê khai đề nghị cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất nên UBND huyện Ttrước đây không xem xét việc giao đất, cấp GCN QSDĐ cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn L đang sử dụng đất tại khu vực này. Hộ gia đình ông Nguyễn Văn L vẫn sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất nông nghiệp tại Khu Sống cao từ thời điểm khoán 10, khoán 100 đến nay. UBND xã Liên M , UBND huyện T trước đây không thực hiện việc thu hồi đất lại diện tích đất nông nghiệp không giao cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn L tại khu x đồng Sống Cao để quản lý theo quy định và cũng không ký hợp đồng thuê đất đối với các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất. Diện tích 372m2 đất thửa đất số 605, tờ bản đồ số 16, bản đồ năm 1994 phường Liên M ) do hộ gia đình ông Nguyễn Văn L đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học là đất nông nghiệp không giao do UBND phường Liên M quản lý (không thuộc diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình được giao theo Nghị định 64/CP).
Việc thu hồi đất và lập phương án bồi thường giải phóng mặt bằng đối với
hộ gia đình ông Nguyễn Văn L: Ngày 05/6/2008, Tổ công tác có Biên bản điều tra, xác minh diện tích đất thu hồi trong chỉ giới GPMB là 372m2 đất thuộc thửa đất số 605, tờ số 20 bản đồ đo vẽ năm 1994 phường Liên M . Ngày 10/10/2008, UBND xã Liên M (nay là UBND phường Liên M ) có xác nhận về đất và tài sản trên đất nằm trong chỉ giới thu hồi đất phục vụ công tác GPMB thực hiện dự án: Khu công nghệ cao sinh học H . Ngày 04/5/2015, UBND phường Liên M có xác nhận bổ sung về thời điểm sử dụng đất thửa đất số 605, tờ số 16 hộ gia đình ông Nguyễn Văn L sử dụng trước ngày 01/7/2004. Ngày 11/4/2016, UBND quận B ban hành quyết định số 1371/QĐ-UBND về việc thu hồi 372m2 đất nông nghiệp không giao do UBND phường Liên M quản lý hiện hộ gia đình ông Nguyễn Văn L đang sử dụng trước ngày 01/7/2004. Ngày 11/4/2016, UBND quận B ban hành Quyết định số 1442/QĐ-UBND của về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn L đã tính bồi thường với tổng số tiền bồi thường hỗ trợ là 196.431.573 đồng; cụ thể:
- Bồi thường, hỗ trợ về đất: 74.995.200 đồng.
- Bồi thường, hỗ trợ về hoa màu: 108.600.000 đồng.
- Bồi thường, hỗ trợ công trình: 12.836.373 đồng.
Về quá trình giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn L: Ông Nguyễn Văn
L khiếu nại Quyết định số 1371/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B về việc thu hồi đất tại phường Liên M để thực hiện dự án khu công nghệ cao sinh học H và Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ chi tiết đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn L tại dự án xây dựng khu công nghệ cao sinh học H với các nội dung đề nghị: được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp; bồi thường, hỗ trợ về công trình theo phương án dự thảo bồi thường hỗ trợ ngày 22/6/2015. Ngày 30/5/2016, UBND quận B ban hành Thông báo số 827/TB-UBND về việc thụ lý khiếu nại. Ngày 30/5/2016, Chủ tịch UBND quận B ban hành Quyết định số 2130/QĐ-UBND về việc xác minh nội dung khiếu nại. Theo phiếu xác nhận ngày 04/6/2015 của UBND phường Liên M , hộ gia đình ông Nguyễn Văn L xây dựng công trình trên diện tích đất bị thu hồi để phục vụ sản xuất nông nghiêp không có văn bản cho phép của UBND xã Liên M ; Do đó, được hỗ trợ về công trình bằng 80% m c bồi thường đơn giá đối với công trình xây dựng trước ngày 15/10/1993 và hỗ trợ 10% đối với công trình xây dựng sau ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 là đúng theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 14 Quyết định 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 và Quyết định số 02/2016/QĐ-UBND ngày 21/01/2016 của UBND thành phố H .
Như vậy, các công trình xây dựng của hộ gia đình ông Nguyễn Văn L phục
vụ sản xuất nông nghiệp không có văn bản cho phép của UBND phường Liên M song đã được UBND phường Liên M tạo điêu kiện cho xây dựng mà không xử lý; Do đó, cần xem xét áp dụng khoản 2 Điều 12 Quyết định 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND thành phố H để được bồi thường về công trình bằng 100% đơn giá xây dựng. Ngày 03/8/2016, phòng Thanh tra quận B có Báo cáo số 314/BC-TTr về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Văn L. Địa chỉ: TDP Yên N 1, phường Liên M , quận B . Ngày 12/8/2016, Chủ tịch UBND quận B đã ban hành Quyết định số 3387/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn L địa chỉ tại phường Liên M , quận B , H với nội dung giữ nguyên Quyết định số 1371/QĐ-UBND và Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B . Ngày 15/12/2016, Chủ tịch UBND thành phố H đã ban hành Quyết định số 6926/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn L địa chỉ TDP Yên N, Liên M , B (lần hai) với nội dung: Đồng ý và giữ nguyên Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 12/8/2016 của Chủ tịch UBND quận B về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn L. Tuy nhiên, đến nay UBND quận B chưa ban hành Quyết định phê duyệt bổ sung phương án BTHT cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn L theo Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 12/8/2016 của Chủ tịch UBND quận B do dự án Xây dựng công nghệ cao sinh học chưa được gia hạn triển khai thực hiện dự án và chưa được ng vốn nên chủ đầu tư chưa có cơ sở thực hiện.
Quan điểm của UBND quận B : Việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ
trợ đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn L tại dự án Khu công nghệ cao sinh học H : Diện tích 372m2 đất do hộ gia đình ông Nguyễn Văn L đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học là đất nông nghiệp không được giao theo Nghị định 64/CP; Do đó, ngày 11/4/2016, UBND quận B ban hành Quyết định số 1371/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 1442/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn L (trước thời điểm Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ đã có hiệu lực thi hành) đã bồi thường 01 lần giá đất nông nghiệp là đúng với quy định tại khoản 2, Điều 77, Luật Đất đai năm 2013, không tính hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp là đúng quy định tại khoản 1, Điều 20, Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Tại thời điểm UBND quận B ban hành Quyết định thu hồi đất và Quyết
định phê duyệt phương án BTHT đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn L (ngày 11/4/2016) chưa ban hành Nghị định số 01/2017/NĐ-CP của Chính phủ. Việc UBND quận B không phê duyệt chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn L là đúng theo quy định tại Khoản 1, Điều 20, Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Chủ tịch UBND quận B ban hành Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 12/8/2016 về việc khiếu nại lần 1 là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung đảm bảo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố H bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là y an nhân dân phường Liên
M trình bày: Nhất trí với các nội dung trình bày của UBND quận B .
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là à Nguyễn Thị H anh Nguyễn Văn N chị Nguyễn Thị M thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L
Tại phiên tòa: Đại diện ủy quyền của ông L sau khi trình bày tranh luận đã đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện để đảm bảo quyền và lợi ích theo đúng quy định pháp luật cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn L.
Ý kiến c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph H tại phiên tòa: Hoạt động thụ lý và tiến hành tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử là đúng quy định; đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, Luật Đất Đai năm 2013, Luật Khiếu nại và các văn bản pháp luật có liên quan:
- Bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn L
- Về án phí HCST: Ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm do không được chấp nhận yêu cầu khởi kiên.
Căn c các tài liệu, ch ng c thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn c kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Về tố tụng: Đối tượng khởi kiện là các Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết; Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu và Quyết định số 6926/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND thành phố H về việc giải quyết khiếu nại lần hai đều là các quyết định hành chính được ban hành trong quá trình thực hiện thu hồi đất, giải phòng mặt bằng trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 và Điều 30 Luật Tố tụng hành chính.
Về thời hiệu khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng ngày 18/11/2019 ông Nguyễn Văn L nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố H yêu cầu hủy Quyết định số 6926/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND thành phố H về việc giải quyết khiếu nại lần hai và sau đó ông Nguyễn Văn L tiếp tục bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết; Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu. Theo ông L trình bày mặc dù ông nộp đơn khiếu nại lần 2 từ năm 2016 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H giải quyết khiếu nại cùng ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 6926/QĐ-UBND từ ngày 15/12/2016, nhưng gia đình ông không nhận được Quyết định này. Ngày 22/7/2019, gia đình ông mới được giao nhận được Quyết định và ngày 18/11/2019 ông mới thực hiện được việc nộp đơn khởi kiện đến Tòa án. Ông có xuất trình Biên bản bàn giao quyết định của Ban tiếp công dân thành phố H ngày 22/7/2019 cho Tòa án. Trong quá trình giải quyết, Tòa án nhân dân thành phố H có yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố H cung cấp tài liệu ch ng c về việc bàn giao Quyết định số 6926/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 cho ông Nguyễn Văn L nhưng không được cung cấp. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định ngày ông Nguyễn Văn L nhận được Quyết định số 6926/QĐ-UBND là ngày 22/7/2019 để tính thời hiệu khởi kiện và căn c điểm a khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính thì yêu cầu khởi kiện của ông L đảm bảo về thời hiệu.
Khi xét tính hợp pháp của các Quyết định bị khởi kiện, Hội đồng xét xử xem xét cả tính hợp pháp của Quyết định số 1371/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của Ủy ban nhân dân quận B về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Nguyễn Văn L để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học H .
Người bị kiện là Chủ tịch UBND thành phố H ; Chủ tịch và UBND quận B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Thành phố H theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
Tại phiên tòa, Người bị kiện là Chủ tịch UBND thành phố H ; Chủ tịch và UBND quận B , người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND phường Liên M , Hợp tác xã Yên N và những người liên quan khác có đơn đề nghị xét xử v ng mặt. Căn c quy định tại khoản 1 Điều 156 và khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Toà án vẫn tiến hành xét xử.
Xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính:
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành và tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị khiếu kiện:
Ủy ban nhân dân Quận B ban hành các Quyết định số 1371/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của Ủy ban nhân dân quận B về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Nguyễn Văn L để thực hiện dự án: Khu công nghệ cao sinh học H và Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết là đúng pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành theo quy định tại Luật Tổ ch c chính quyền địa phương năm 2015; Luật đất đai năm 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B ban hành Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu và Chủ tịch UBND thành phố H ban hành Quyết định số 6926/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 về việc giải quyết khiếu nại lần hai đối với khiếu nại của ông Nguyễn Văn L là đúng pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành theo quy định tại Luật Tổ ch c chính quyền địa phương năm 2015; Luật Khiếu nại năm 2011; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại.
Về các nội dung của các quyết định hành chính bị khiếu kiện: Diện tích 372m2 thửa 605, tờ bản đồ 20, bản đồ năm 1994 phường Liên M hộ gia đình ông L sử dụng bị thu hồi để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học H có nguồn gốc là đất nông nghiệp, hộ gia đình ông L sử dụng từ khoán 100, khoán 10, nhưng không nằm trong hạn m c giao đất nông nghiệp theo Nghị định số 64/CP của Chính phủ cho hộ gia đình ông L. Theo phương án chi tiết giao đất nông nghiệp theo Nghị định số 64/NĐ- CP cho hộ gia đình ông L lưu tại UBND phường Liên M thể hiện: số nhân khẩu được giao: 4 khẩu, diện tích được giao: 1032m2 (bình quân 258m2/khẩu) và đã được UBND huyện T cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. Trên thực tế, ngoài diện tích đất nông nghiệp được giao theo Nghị định số 64/CP nêu trên, hộ gia đình ông L còn sử dụng 372m2 đất nông nghiệp (bị thu hồi để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học H ) từ trước thời điểm thực hiện giao đất theo Nghị định số 64/CP để sản xuất nông nghiệp cho đến khi Nhà nước thu hồi để thực hiện Dự án. Chính quyền địa phương không thực hiện bất kỳ biện pháp gì (thông báo, thu hồi lại, ký họp đồng thuê thầu...) để quản lý đối với phần diện tích này.
Đối với diện tích 372m2 hộ gia đình ông Nguyễn Văn L đang sử dụng bị thu hồi tại dự án xây dựng Khu công nghệ cao sinh học trên địa bàn phường Liên M (thửa đất số 605, tờ bản đồ số 20, bản đồ năm 1994 phường Liên M ) là đất nông nghiệp không giao do UBND phường Liên M quản lý (không thuộc diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình được giao theo Nghị định 64/NĐ-CP); Do đó, ngày 11/4/2016, UBND quận B ban hành Quyết định số 1371/QĐ-UBND về việc thu hồi 372m2 đất nông nghiệp không giao do UBND phường Liên M quản lý, hiện hộ gia đình ông Nguyễn Văn L đang sử dụng là đúng quy định. Nguyễn Văn L đã tính bồi thường về đất theo giá đất nông nghiệp là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai năm 2013. Đối với yêu cầu được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hộ gia đình ông L không thuộc đối tượng được hỗ trợ được quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và cũng không được tính hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Vì vậy, ông Nguyễn Văn L đề nghị được bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp đối với phần diện tích 372 m2 đất nông nghiệp hộ gia đình đang sử dụng là không có cơ sở chấp nhận.
Theo phiếu xác nhận bổ sung ngày 04/6/2015 của UBND phường Liên M , hộ gia đình ông Nguyễn Văn L xây dựng công trình trên diện tích đất bị thu hồi để phục vụ sản xuất nông nghiêp không có văn bản cho phép của UBND xã Liên M ; Do đó, được hỗ trợ về công trình bằng 80% m c bồi thường đơn giá đối với công trình xây dựng trước ngày 15/10/1993 và hỗ trợ 10% đối với công trình xây dựng sau ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 là đúng theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 14 Quyết định 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 và Quyết định số 02/2016/QĐ-UBND ngày 21/01/2016 của UBND thành phố H . Tuy nhiên, ngày 27/6/2016, UBND phường Liên M có văn bản số 205/UBND-ĐC đề nghị UBND Quận xem xét bồi thường, hỗ trợ phần công trình trên đất nông nghiệp cho các hộ gia đình với nội dung: “UBND xã Liên M trước đây (nay là UBND phường Liên M ) tạo điêu kiện cho các hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp được xây dụng một số công trình phụ trợ phục vụ sản xuất nông nghiệp không lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và trật tự xây dụng gồm các công trình: bể phân; giếng khoan; nhà lưới ni lông, khung tre; hàng rào lưới B40; tường rào xây gạch, nhà tạm đế dụng cụ sản xuất nông nghiệp và trông nom tài sản”. Như vậy, các công trình xây dựng của hộ gia đình ông Nguyễn Văn L phục vụ sản xuất nông nghiệp không có văn bản cho phép của UBND phường Liên M song đã được UBND phường Liên M tạo điêu kiện cho xây dựng mà không xử lý; Do đó, cần xem xét áp dụng khoản 2 Điều 12 Quyết định 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND thành phố H để được bồi thường về công trình bằng 100% đơn giá xây dựng. Và tại Quyết định số 3066/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu đã quyết định bồi thường về công trình bằng 100% đơn giá xây dựng cho hộ gia đình ông L.
Như vậy, Hội đồng xét xử xác định diện tích 372m2 đất do hộ gia đình ông Nguyễn Văn L đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện dự án Khu công nghệ cao sinh học là đất nông nghiệp không được giao theo Nghị định 64/CP; Do đó, ngày 11/4/2016, UBND quận B ban hành Quyết định số 1371/QĐ-UBND về việc thu hồi 372m2 đất nông nghiệp và Quyết định số 1442/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn L đã bồi thường 01 lần giá đất nông nghiệp là đúng với quy định tại khoản 2, Điều 77, Luật Đất đai năm 2013, không tính hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp là đúng quy định tại khoản 1, Điều 20, Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Chủ tịch UBND quận B đã ban hành Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết định số 6926/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 về giải quyết khiếu nại lần hai đối với ông Nguyễn Văn L là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung đảm bảo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết, ông Nguyễn Văn L trình bày một số hộ dân ở phường Liên M , phường T bị thu hồi đất để thực hiện dự án có diện tích như gia đình ông bị thu hồi nhưng không được bồi thường, hỗ trợ nghề và tìm kiếm việc làm. Các hộ dân đã khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố H và Tòa án nhân dân thành phố H đã căn c điều 74, điều 75 Luật đất đai 2013 và điểm d khoản 1 điều 19, khoản 1 điều 20 nghị định 47/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 01/2017/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai xử hủy quyết định và chấp nhận phương án hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp và Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên các bản án này Tòa án nhân dân cấp cao đã xử Giám đốc thẩm và quyết định hủy toàn bộ các Bản án sơ thẩm nói trên để xét xử lại theo thẩm quyền. Mặt khác, tại thời điểm hộ gia đình ông L bị thu hồi đất là vào năm 2016 khi đó Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 chưa có hiệu lực pháp luật ( có hiệu lực từ ngày 03/3/2017). Tại Điều 5 của Nghị định có quy định về Điều khoản chuyển tiếp như sau: “Trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt và không áp dụng theo quy định của Nghị định này”. Như vậy, trường hợp của hộ gia đình ông L không được áp dụng các quy định của Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 để được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp
Do các Quyết định nói trên đều đúng pháp luật và đã đảm bảo quyền lợi cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn L nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông L về việc buộc UBND quận B ra Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho gia đình ông L số tiền 433.520.093đồng
Từ phân tích, nhận định và đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn c để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L. Do vậy, căn c khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính xử bác các yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính và Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuy nhiên ông Nguyễn Văn L là Người cao tuổi nên được miễn án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 204 và Điều 206 Luật Tố tụng hành chính.
Luận c và đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tại phiên tòa phù hợp với các ch ng c có trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử.
Từ nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 3, Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 158; Khoản 1, Điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194; Điều 204; Điều 206; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 88 và khoản 1, 2 Điều 89 Luật Đất đai năm 2013; Điều 31, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; khoản 1,3 Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và điểm a khoản 1 Điều 12 Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/03/2017 của UBND thành phố H ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND thành phố H về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố H .
Luật Phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1/Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L yêu cầu hủy các Quyết định sau:
Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 11/4/2016 của UBND quận B về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết
Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của Chủ tịch UBND quận B về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu
Quyết định số 6926/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của Chủ tịch UBND thành phố H về việc giải quyết khiếu nại lần hai
2/ Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí Hành chính sơ thẩm
Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự v ng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố H . - Đương sự. - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Kiều T |