vanban.org

Bản án 54/2020/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 04/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 03/7/2020). Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2020/HSST
Ngày 03 tháng 7 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bắc H, ông Phạm Minh Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đà Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; sinh ngày 12/8/1982 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu 19-5, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe máy; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Đặng Thị K, sinh năm 1959; Vợ là Quàng Thị H, sinh năm 1982 và 02 người con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2011); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Quàng Thị H, sinh năm 1982; Trú tại: Tiểu khu 19-5, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.

* Người làm chứng:

- Ông Trần Nam A - Trạm trưởng Trạm Biên phòng cửa khẩu phụ N, Đồn biên phòng C, huyện Y, tỉnh Sơn La, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ông Đinh Gia D - Cán bộ Trạm Biên phòng cửa khẩu phụ N, Đồn biên phòng C, huyện Y, tỉnh Sơn La, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H trú tại Tiểu khu 19-5, xã C, huyện M mở cửa hàng sửa xe máy tại bản Phục, xã Nà Tong, huyện Xiềng Khọ, nước CHDCND Lào. Ngày 29/12/2019, Nguyễn Văn H đi ăn cưới tại huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào, H gặp một người đàn ông (H không biết tên, địa chỉ) qua nói chuyện, biết người đó có pháo bán nên H đã mua 28 hộp pháo (24 hộp pháo hoa và 04 hộp pháo tép) với số tiền 6.400.000đ nhằm mục đích vận chuyển về Việt Nam sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán. Số pháo mua được, H mang về quán sửa xe máy cất giấu. Ngày 01/01/2020, H cho pháo vào một thùng cát tông giấu ở góc bên lái, trên thùng xe ô tô BKS 27H-2382, phía trên chất nhiều hàng hóa, vật dụng tránh cơ quan chức năng phát hiện trong quá trình vận chuyển từ Lào về nhà tại Tiểu khu 19-5, xã C, huyện M. Khoảng 12 giờ cùng ngày, H điều khiển xe đến Trạm Biên phòng Cửa khẩu phụ Nà Cài, xã Chiềng On, huyện Yên Châu. Ông Trần Nam A - Trạm trưởng Trạm Biên phòng cửa khẩu sau khi nghe H trình bày lúc xuất cảnh tại cửa khẩu “SOB DOUNG” Lào không gặp cán bộ làm nhiệm vụ, không lấy được dấu vào giấy thông hành, do đó H để lại giấy thông hành và xin xuất trình sau. Ông Trần Nam A chỉ tiến hành kiểm tra xe. Quá trình kiểm tra, không phát hiện trên xe cất giấu hàng cấm nên để H nhập cảnh vào Việt Nam. Khoảng 13 giờ 30 phút, khi điều khiển xe đến khu vực bản Chiềng Yên, xã Yên Sơn, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, H bị tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế, Công an tỉnh Sơn La phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ phương tiện và số pháo trên.

Vật chứng thu giữ gồm: 24 (hai mươi tư) hộp pháo hoa và 04 (bốn) hộp pháo tép có tổng trọng lượng là 41 kg (bốn mươi mốt kilôgam); 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 27H-2382 và toàn bộ số hàng hóa, vật dụng (thùng phi, xăm lốp xe máy, vành xe đạp...) đã qua sử dụng với tổng trọng lượng 672 kg (sáu trăm bảy mươi hai kilôgam).

Ngày 02/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La Quyết định trưng cầu giám định số 24/QĐ-CQCSĐT, giám định số vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn H. Kết luận giám định số 41/C09-P2 ngày 03/01/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 24 khối hình hộp, vỏ bằng giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ, bỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ. Tổng khối lượng pháo 33kg (ba mươi ba kilôgam). Các vật hình trụ, vỏ giấy màu đỏ, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi, được liên kết với nhau thành tràng (04 tràng) đều là pháo nổ. Tổng khối lượng pháo là 5,8kg (năm phẩy tám kilôgam).

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H thừa nhận đã mua số pháo trên từ nước CHDCND Lào vận chuyển qua biên giới về Việt Nam để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán.

Do có hành vi nêu trên tại Cáo trạng số: 95/CT-VKS ngày 25/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố Nguyễn Văn H về tội Vận chuyển hàng cấm theo điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La: Giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Vận chuyển hàng cấm. Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cho bị cáo 60 (sáu mươi) tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng thu giữ trong vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ thu giữ; trả lại cho gia đình bị cáo chiếc xe ô tô BKS 27H-2382 và 672 kg (sáu trăm bảy hai kilogam) phế liệu, sắt vụn, đã qua sử dụng, được xếp trong thùng xe ô tô mang biển kiểm soát 27H-2382 thu giữ của Nguyễn Văn H.

Về án phí hính sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng và Luận tội mà Viện kiểm sát đã quy kết, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, Nguyễn Văn H đều khai nhận: Ngày 29/12/2019, tại huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào Nguyễn Văn H đã mua của một người đàn ông (không biết tên và địa chỉ) 28 hộp pháo (gồm 24 hộp pháo hoa và 04 hộp pháo tép) với mục đích mang về Việt Nam để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán. Ngày 01/01/2020, H cất giấu số pháo mua được trên xe ô tô BKS 27H-2382 vận chuyển từ CHDCND Lào về Việt Nam qua Cửa khẩu phụ Nà Cài, xã Chiềng On, huyện Yên Châu. Khi H đi đến khu vực bản Chiềng Yên, xã Yên Sơn, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang, cùng toàn bộ số pháo nêu trên.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án cụ thể như sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ, ngày 01/01/2020 tại bản Chiềng Yên, xã Yên Sơn, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La ghi nhận sự việc: Tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Sơn La phát hiện và thu giữ tại vị trí góc bên lái trên thùng xe ô tô BKS 27H-2382 do Nguyễn Văn H điều khiển một thùng cát tông, bên trong có chứa 24 hộp pháo hoa và 04 hộp pháo tép.

- Biên bản ghi lời khai của ông Bùi Văn Đ, địa chỉ: bản C, xã Y, huyện Y, tỉnh Sơn La xác nhận, đã được chứng kiến Tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Sơn La kiểm tra và thu giữ toàn bộ số pháo nêu trên trong thùng xe ô tô BKS 27H-2382 của Nguyễn Văn H.

- Kết luận giám định số 41/C09-P2 ngày 03/01/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 24 khối hình hộp, vỏ bằng giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ. Tổng khối lượng pháo 33kg (ba mươi ba kilôgam). Các vật hình trụ, vỏ giấy màu đỏ, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi, được liên kết với nhau thành tràng (04 tràng) đều là pháo nổ. Tổng khối lượng pháo thu giữ của Nguyễn Văn H là 5,8kg (Năm phẩy tám kilôgam).

- Biên bản ghi lời khai, bản tự khai và biên bản làm việc với ông Trần Trần Nam A, chức vụ: Trạm trưởng và ông Đinh Gia D, chức vụ: Cán bộ của Trạm Biên phòng cửa khẩu phụ Nà Cài, Đồn biên phòng Chiềng On, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đều xác nhận: Ngày 01/01/2020, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô BKS 27H-2382 làm thủ tục nhập cảnh tại Trạm Biên phòng cửa khẩu phụ Nà Cai.

Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi vận chuyển trái phép 38,8 kg pháo nổ từ lãnh thổ nước CHDCND Lào về Việt Nam, hành vi phạm tội của H được quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự “Vận chuyển qua biên giới, trừ hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu ” có mức hình phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 (hai) năm đến 05 (năm) năm.

Nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo là lao động chính trong gia đình, trước khi phạm tội bị cáo bị tai nạn dẫn đến chấn thương sọ não, thiệt hại 47% sức khỏe; gia đình bị cáo có đơn xin bảo lãnh cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và được chính quyền địa phương xác nhận, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H có đủ khả năng nhận thức quy định pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam nghiêm cấm việc tàng trữ, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng pháo nổ, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi vận chuyển 38,8 kg pháo nổ từ nước CHDCND Lào về Việt Nam để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất cháy nổ, ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, hành vi phạm tội của bị cáo chỉ nhằm sử dụng cá nhân, không vì mục đích vụ lợi để phát tán pháo nổ ra bên ngoài; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo chấp hành tốt đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, khi bị cáo đang trên đường vận chuyển pháo nổ thì đã bị cơ quan chức năng phát hiện và ngăn chặn kịp thời, chưa gây hậu quả xấu cho xã hội. Do đó, cần xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo, không cần thiết bắt bị cáo pH cách ly xã hội mà vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, đồng thời cũng tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội tự cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, bị cáo Nguyễn Văn H còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không có điều kiện thi hành nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với ông Trần Nam A - Trạm trưởng trạm Biên phòng Cửa khẩu phụ Nà Cài, xã Chiềng On, huyện Yên Châu là người trực tiếp làm thủ tục nhập cảnh cho Nguyễn Văn H; Ông Đinh Gia D - Cán bộ Trạm Biên phòng Cửa khẩu phụ Nà Cài là người thực hiện kiểm tra, giám sát khi làm thủ tục nhập cảnh. Quá trình điều tra, ông Trần Nam A và ông Đinh Gia D khai nhận thời gian làm thủ tục nhập cảnh cho H khoảng 10 giờ ngày 01/01/2020, cả hai thực hiện đúng quy trình kiểm tra xe, giấy thông hành của H trước khi cho nhập cảnh. Quá trình kiểm tra không phát hiện hàng cấm. Ngày 06/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành đối chất giữa ông Trần Nam A, ông Đinh Gia D với Nguyễn Văn H, tuy nhiên các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Trên cơ sở tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Trần Nam A và ông Đinh Gia D là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với vật chứng thu giữ gồm 38,8 kg pháo nổ của Nguyễn Văn H là hàng hóa Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe ô tô có số khung: XTT31602020005308; số máy: 4JBLTL90400990D, mang biển kiểm soát 27H-2382 và các vật dụng đã qua sử dụng có tổng khối lượng 672 kg. Xét đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo H, nên cần trả lại cho vợ bị cáo H là Quàng Thị Hòa.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 299; khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

1.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 03/7/2020).

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

1.3. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn H, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Hộp vật chứng còn nguyên niêm phong, một mặt hộp vật chứng có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ án Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, nơi cư trú: Tiểu Khu 19/5, C, M, Sơn La, phạm tội: Vận chuyển hàng cấm; Vật chứng gồm: 38,6Kg (Ba mươi tám phảy sáu kilôgam) pháo: (Trong đó: 23 khối hình hộp, vỏ bằng giấy màu, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau và 01 khối hình hộp, vỏ bằng giấy màu, bên trong khối hộp gồm 31 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau, và các vật hình trụ vỏ bằng giấy màu đỏ, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi được liên kết với nhau thành tràng (04 tràng)). Bắt ngày 01/01/2020”. (Kết luận giám định số: 41/03.01.2020 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, thì mẫu gửi giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ) và 01 bộ biển kiểm soát xe ô tô số 27H-2382. Thu giữ của Nguyễn Văn H .

3.2. Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Quàng Thị Hòa:

- 01 (một) Chiếc xe ô tô, màu sơn rêu, không rõ nhãn hiệu, xe có số khung: XTT31602020005308; số máy: 4JBLTL90400990D, mang biển kiểm soát 27H-2382, sườn bên trái của xe không có kính chắn, và sườn bên phải của xe 01 ô không có kính chắn, xe bị hỏng, bong tróc nhiều chỗ, xe không có chìa khóa, xe đã qua sử dụng. (Hai bên giao nhận không kiểm tra máy móc thiết bị bên trong của xe). (Kết luận giám định số 352/18.02.2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thì xe ô tô giám định có XTT31602020005308; số máy: 4JBLTL90400990D; Là số khung, số máy nguyên thủy, bộ biển kiểm soát 27H-2382 là biển kiểm soát giả). Tại các cánh cửa xe, đầu và cuối cabin xe được dán giấy niêm phong trên giấy niêm phong. Thu giữ của Nguyễn Văn H.

- 672 Kg (Sáu trăm bảy hai Kilogam) phế liệu, sắt vụn, đã qua sử dụng, được xếp trong thùng xe ô tô mang biển kiểm soát 27H-2382. Thu giữ của Nguyễn Văn H.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo Nguyễn Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/7/2020)./.

Cỡ chữ