vanban.org

Bản án 54/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 25/08/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Chu Văn Đ được ly hôn với chị Trần Thị H.

Về án phí: Anh Chu Văn Đ phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2018/0000683 ngày 08/6/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Chu Văn Đ được ly hôn với chị Trần Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 25/8/2020
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Văn Chiến

2.Bà Lê Thị Minh Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giangtham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/7/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 58/2020/QĐ-ST ngày 03/8/2020 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Chu Văn Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

-Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Hiện đang lao động tại nước ngoài không có địa chỉ).

Địa chỉ cuối cùng của chị Trần Thị H ở Việt Nam: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 08/6/2020 nguyên đơn anh Chu Văn Đ trình bày:

Anh và chị Trần Thị H kết hôn vào ngày 25/10/2016 trên cơ sở tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn được 04 ngày từ ngày 25/10/2016 đến ngày 02/11/2016 thì chị H đi nước ngoài lao động và từ đó đến nay chưa về nước. Trong thời gian chị H ở nước ngoài cũng không gọi điện liên lạc gì với anh, hai vợ chồng không ai quan quan tâm tới ai, khi bố anh mất chị H cũng không về hỏi thăm gia đình. Nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị H.

Về con chung: Anh và chị H không có con chung, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản, công nợ: Anh chị không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Đ còn trình bày: Hiện nay chị H vẫn ở lao động ở nước ngoài, địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài anh không cung cấp cho Tòa án được vì anh không liên lạc được với chị H, chị H vẫn liên lạc về gia đình nhưng mẹ đẻ của chị H là bà Lê Thị Á; trú tại: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang không cung cấp địa chỉ nên anh không biết để cung cấp cho Tòa án.

Do tính chất công việc nên anh không thể tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh và chị H được, nên anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh và chị Trần Thị H.

Bị đơn chị Trần Thị H không có bản tự khai.

Ngày 09/6/2020 và ngày 26/6/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của chị Trần Thị H là bà Lê Thị Á, trú tại: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu bà Á thông báo cho chị H biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Chu Văn Đ và chị Trần Thị H; yêu cầu chị H viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; yêu cầu bà Á cung cấp địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài. Tuy nhiên, qua 2 lần làm việc bà Á vẫn giữ nguyên quan điểm là chị H ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình nhưng bà không cung cấp địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài cho Tòa án, vì đây là việc cá nhân của chị H, đồng thời bà cũng không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị H biết để chị H gửi lời khai về. Kể từ đó đến nay, Tòa án cũng không nhận được bất kỳ lời khai nào của chị H gửi về.

Tại phiên tòa: nguyên đơn anh Chu Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Trần Thị H vắng mặt không có lý do.

Hội đồng xét xử công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Đ; Biên bản làm việc với mẹ đẻ của chị H là bà Lê Thị Á và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đối với nguyên đơn anh Chu Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị H không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với chị H; Căn cứ vào công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt chị H là đúng.

-Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51,53, 56 và khoản 2 điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 điều 35; điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 điều 147; khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228; điều 238; điều 271; điều 273; khoản 2 điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Chu Văn Đ. Xử cho anh Chu Văn Đ được ly hôn chị Trần Thị H.

Anh Chu Văn Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Anh Chu Văn Đ là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh Chu Văn Đ.

Đối với bị đơn chị Trần Thị H vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của chị H là bà Lê Thị Á để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu bà Á thông báo cho chị H biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa: anh Chu Văn Đ và chị Trần Thị H; Yêu cầu chị H viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; Yêu cầu bà Á cung cấp địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài.

Bà Lê Thị Á trình bày: Chị H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Tuy nhiên, Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà bà Á vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của chị H cho Tòa án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị H biết. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Nên căn cứ khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn chị Trần Thị H theo thủ tục chung.

.Về thẩm quyền: Anh Chu Văn Đ là nguyên đơn có đơn xin ly hôn chị Trần Thị H, chị H hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Theo Công văn số 7452/QLXNC-P5 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 29/5/2020 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an, thì chị H xuất nhập cảnh 07 lần, lần gần đây nhất là ngày 25/11/2018 hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại, địa chỉ cuối cùng của chị H ở Việt Nam là: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ Hôn nhân: Anh Đ và chị H kết hôn năm 2016 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo anh Đ trình bày: Sau khi kết hôn anh và chị H về ở chung cùng với gia đình anh. Sau khi kết hôn được 04 ngày từ ngày 25/10/2016 đến ngày 02/11/2016 thì chị H đi lao động tại nước ngoài từ đó đến nay chưa về nước. Trong thời gian chị H đi lao động ở nước ngoài thì chị H không quan tâm tới anh, khi bố anh mất cũng không điện hỏi thăm, vợ chồng anh cắt đứt liên lạc với nhau từ đó đến nay. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị H.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Chu Văn Đ với chị Trần Thị H. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh Đ và chị H chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì chị H đi lao động tại nước ngoài và cũng từ thời gian đó vợ chồng không liên lạc gì với nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Như vậy, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Đ và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Đ đối với chị Trần Thị H. Xử cho anh Đ được ly hôn với chị H.

. Về con chung: Anh Đ và chị H chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về tài sản, công nợ: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Anh Chu Văn Đ phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273;Điều 470; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự;khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1.Về hôn nhân: Anh Chu Văn Đ được ly hôn với chị Trần Thị H.

2.Về án phí: Anh Chu Văn Đ phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2018/0000683 ngày 08/6/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Đ đã nộp đủ.

3.Về quyền kháng cáo bản án: Anh Chu Văn Đ hiện đang ở Việt Nam vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Chị Trần Thị H hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Án xử công khai sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ