vanban.org

Bản án 54/2020/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Nguyễn Thanh K. Buộc anh Đoàn Văn Q và anh Đoàn Văn Đ cùng chịu trách nhiệm thanh toán cho anh Nguyễn Thanh K 2.

Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị. [2] Về án phí, chi phí tố tụng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Nguyễn Thanh K đòi Đoàn Văn Đ và Đoàn Văn Q bồi thường thiệt hại sức khỏe"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Nguyễn Thanh K. Buộc anh Đoàn Văn Q và anh Đoàn Văn Đ cùng chịu trách nhiệm thanh toán cho anh Nguyễn Thanh K 2.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2020/DS-ST
Ngày: 31-7-2020
V/v tranh chấp “Bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng đối với Thiệt hại do
sức khỏe bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Khanh

2. Bà Tăng Thị Bạch Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà: Trần Thị Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Lâm Thanh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2020/TLST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp: “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2020/QĐXX-ST ngày 24 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh K, sinh năm 1989.

Địa chỉ: ấp M, x Đ, huyện K, tỉnh S.

2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn Đ, sinh năm 1973.

Anh Đoàn Văn Q, sinh năm 1982.

Cùng địa chỉ: ấp K, x Đ, huyện K, tỉnh S.

(Anh K có đơn xin vắng mặt; Anh Đ và anh Q cùng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là anh Nguyễn Thanh K có đơn xin vắng mặt.

Theo đơn khởi kiện ngày 06/3/2020, các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Thanh K trình bày:

Ngày 28/12/2019, anh Nguyễn Thanh K cùng với anh Đoàn Văn Q và anh Đoàn Văn Đ xảy ra xô xát. Sau đó, Anh K phải đi điều trị tại Trung tâm ý tế thị x (thành phố) Ng Bảy từ ngày 29/12/2019 đến ngày 02/01/2020 thì được xuất viện, các chi phí điều trị và các chi phí khác Anh K yêu cầu anh Đoàn Văn Đ và Đoàn Văn Q cùng chịu trách nhiệm bồi thường, cụ thể như sau:

Tiền chụp X – quang: 459.000 đồng;

Tiền viện phí: 924.000 đồng;

Tiền cấp Giấy chứng nhận thương tích: 160.000 đồng;

Tiền đi lại bệnh viện: 2.500.000 đồng;

Tiền công của Anh K: 200.000 đồng x 05 ngày là 1.000.000 đồng;

Tiền công lao động của người nuôi bệnh: 200.000 dồng x 05 ngày là 1.000.000 đồng;

Tiền cái áo bị rách là 1.500.000 đồng

Cộng chung là 7.543.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Anh K không yêu cầu anh Q, Anh Đ bồi thường thiệt hại về cái áo này.

Anh K chỉ yêu cầu anh Q và Anh Đ phả bồi thường thiệt hại với số tiền còn lại là 6.043.000 đồng.

Các bị đơn là anh Đoàn Văn Q và anh Đoàn Văn Đ đều vắng mặt

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đ tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Tư cách của người tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định của Điều 68, 70, 71, 72, 234 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh K đòi anh Đoàn Văn Q và Đoàn Văn Đ là có căn cứ một phần. Cho nên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của Anh K. Buộc anh Đoàn Văn Q và anh Đoàn Văn Đ phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Anh K theo chi phí thực tế mà Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa, các bị đơn đ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vắng mặt không rõ lý do và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời cũng không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách đ tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho các bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn là có căn cứ và đúng với quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dấn sự năm 2015.

Xét thấy, việc nguyên đơn có đơn xin vắng mặt là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dấn sự năm 2015. Đồng thời, do tất cả các đương sự đều vắng mặt tại phiên Tòa, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 238 của Bộ luật dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn và các bị đơn.

Về việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không ai ép buộc và không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Cho nên, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đ trình bày là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 244 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Về vấn đề lỗi giữa nguyên đơn và bị đơn:

Theo lời khai của nguyên đơn, các bị đơn và các chứng có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định: Vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 28/12/2019, nguyên đơn và các bị đơn có xảy ra xô xát, đánh nhau dẫn đến nguyên đơn phải nằm điều trị tại Trung tâm ý tế thị x (thành phố) Ng Bảy từ ngày 29/12/2019 đến ngày 02/01/2020 thì xuất viện.

Tại các Biên bản ghi lời khai Nguyễn Thanh K (là nguyên đơn), ĐoànVăn Quý và Đoàn Văn Đ (là các bị đơn) của Công an x Đại Hải, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kế Sách có thể hiện: nguyên đơn và các bị đơn đều cầm cây gỗ hoặc cầm cây leng để dùng vào mục đích xô xát, đánh nhau. Những lời khai của nguyên đơn và các bị đơn cũng phù hợp với lời khai của những người làm chứng đ trình bày có trong hồ sơ vụ việc do Công an x Đại Hải và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kế Sách thu thập được.

Xét thấy, cả nguyên đơn và các bị đơn đều có lỗi trong vụ mâu thuẫn dẫn đến cãi vã, xô xát xảy ra vào ngày 28/12/2019 tại ấp Mang Cá, xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Bỡi lẽ, nguyên đơn và các bị đơn đều dùng những lời lẽ thóa mạ, xúc phạm lẫn nhau, dẫn đến nguyên đơn và các bị đơn xảy ra ẩu đả và gây ra thương tích cho nguyên đơn. Tuy nhiên, căn cứ vào các lời khai của nguyên đơn, các bị đơn và các lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án thì lỗi phần nhiều là thuộc về các bị đơn, do các bị đơn là người đ có hành vi đánh nguyên đơn trước và tích cực thực hiện đến cùng. Vì vậy, các bị đơn phải chịu phần lỗi tương xứng với hành vi của mình đồng thời phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn tướng ứng với phần lỗi mà các bị đơn gây ra cho nguyên đơn.

Theo Giấy chứng nhận thương tích do Trung tâm ý tế thị x (thành phố) Ng Bảy cấp có thể hiện tình trạng thương tích của nguyên đơn lúc vào viện như sau: “.... Tình trạnh thương tích lúc vào viện: Bệnh nhân khai bị người khác đánh; Bệnh tỉnh; tiếp xúc tốt, da niêm hồng ......, kết quả XQ sọ, XQ cánh tay chưa phát hiện bất thường xương trên phim”. (bút lục 31).

Như vậy, thương tích của nguyên đơn khi nhập viện cũng phù hợp với mức độ xô xát giữa hai bên tại thời điểm mâu thuẫn.

Về thiệt hại của nguyên đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cung cấp chứng cứ là các hóa đơn viện phí, hóa đơn giá trị gia tăng để chứng minh sự thiệt hại do các bị đơn gây ra. Về các chi phí này, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Trước hết, đối với chi phí tiền thuốc là 924.722 đồng và tiền cấp Giấy chứng nhận thương tích: 160.000 đồng (bút lục từ 33 đến 34). Cộng chung là 1.084.772 đồng. Xét thấy, do thương tích của nguyên đơn là do các bị đơn gây ra, đồng thời các chi phí này đều có hóa đơn chứng từ hợp lệ, vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận phần chi phí tiền thuốc mà nguyên đơn đ yêu cầu với số tiền nêu trên.

Đối với các chi phí gồm:

+ Thu nhập của nguyên đơn bị mất: 200.000 đồng x 05 ngày là 1.000.000 đồng;

+ Thu nhập của người nuôi nguyên đơn trong thời gian điều trị: 200.000 dồng x 05 ngày là 1.000.000 đồng;

Theo Công văn số 118/P.LĐTBXH ngày 04/6/2020 của Phòng Lao động – Thương binh và X hội huyện Kế Sách có nội dung: “….thu nhập bình quân trên địa bàn huyện Kế Sách đối với Nam từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày; đối với nữ từ 120.000 đồng đến150.000 đồng/ngày….”. Xét thấy, việc nguyên đơn bị thương do các bị đơn gây ra là sự thật, cho nên việc nguyên đơn nằm điều trị là cần thiết. Cho nên, các bị đơn phải bồi thường thiệt hại về thu nhập bị mất của nguyên đơn và người nuôi bệnh của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, mức thu nhập mà nguyên đơn yêu cầu là cao so với thu nhập thực tế tại địa phương, cho nên, Hội đồng xét xử sẽ điều chỉnh mức thu nhập thực tế mà nguyên đơn và người nuôi bệnh của nguyên đơn bị mất trong thời gian nằm điều trị tại Trung tâm y tế thị x (thành phố) Ng Bảy từ ngày 29/12/2019 đến ngày 02/02/2020 là 05 ngày, cụ thể như sau:

+ Thu nhập của nguyên đơn bị mất: 150.000 đồng x 05 ngày là 750.000 đồng;

+ Thu nhập của người nuôi nguyên đơn trong thời gian điều trị (người nuôi bệnh là chị Huỳnh Thị Mỹ Châu – vợ của nguyên đơn): 120.000 dồng x 05 ngày là 600.000 đồng;

Tổng thu nhập bị mất 1.350.000 đồng.

Như vạy, các bị đơn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho nguyên đơn với số tiền cộng chung là 2.434.772 đồng (hai triệu bốn trăm ba mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi hai đồng).

Đối với chi phí tiền chụp X – quang: 54.650 đồng + 109.300 đồng = 163.950 đồng (bút lục 35). Xét thấy, chi phí xét nghiệm, chụp X – quang này được nguyên đơn thực hiện vào ngày 03/02/2020 là sau ngày xuất viện (ngày 02/01/2020). Như vậy, việc nguyên đơn tự chụp hình, xét nghiệm vào ngày 03/02/2020 không liên quan gì đến những thương tích phát sinh do các bị đơn gây ra. Bỡi lẽ, những thương tích đ được nguyên đơn điều trị theo nội dung giấy ra viện và bảng kê chi phí điều trị nội trú ngày 02/01/2020 do Trung tâm y tê thị x (thành phố) Ng Bảy xác nhận. (bút lục 30 và 32). Cho nên, Hội đồng xét xử không chấp nhận các chi phí tiền chụp X – quang theo hóa đơn là 163.950 đồng là chi phí hợp lý để các bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn được.

Riêng chi phí là tiền đi lại bệnh viện: 2.500.000 đồng. Xét thấy, chi phí này, nguyên đơn không cung cấp được chứng từ hóa đơn gì để chứng minh. Bên cạnh đó, nguyên đơn cũng thừa nhận: “đi điều trị tại Trung tâm ý tê thị x (thành phố) Ng Bảy bằng xe máy cá nhân do nguyên đơn tự điều khiển, khoảng cách từ nhà nguyên đơn đến bệnh viện là 15km…”, khoảng cách như vậy là không xa và cũng không làm phát sinh nhiều chi phí như số tiền mà nguyên đơn yêu cầu. Mặt khác, do nguyên đơn cũng có phần lỗi trong việc xảy ra xô xát, đánh nhau giữa các bên nên nguyên đơn phải tự chịu phần chi phí phát sinh có liên quan tương ứng với hành vi, mức độ lỗi của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi các bị đơn phải bồi thường các chi phí đi lại với số tiền cộng chung là 2.500.000 đồng. Dù nguyên đơn có cung cấp được chứng từ hóa đơn hợp lệ thì nguyên đơn cũng phải tự chịu những chi phí này là tương xứng với mối quan hệ nhân quả do lỗi của nguyên đơn gây ra trong việc xô xát với các bị đơn.

Về án phí DSST:

Nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp do thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định.

Các bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, Điều 147, khoản 2, Điều 227, khoản 1, khoản 3, Điều 228, khoản 1, Điều 238, Điều 244, Điều 271, Điều 273 và điểm a, khoản 2, Điều 482 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, Điều 590, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử:

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Nguyễn Thanh K. Buộc anh Đoàn Văn Q và anh Đoàn Văn Đ cùng chịu trách nhiệm thanh toán cho anh Nguyễn Thanh K 2.434.772 đồng (hai triệu bốn trăm ba mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi hai đồng) tiền bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.

[2] Về án phí, chi phí tố tụng:

Anh Nguyễn Thanh K không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp do thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định.

Anh Đoàn Văn Q và anh Đoàn Văn Đ phải cùng chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, anh Nguyễn Thanh K có mặt tại phiên Tòa và có mặt khi tuyên án.

Anh Đoàn Văn Đ và anh Đoàn Văn Q không có mặt tại phiên Tòa và cũng không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đ tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ