vanban.org

Bản án 54/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ Tuyên án 22/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Đinh Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm g khoản 2 điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Đinh Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN C
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2019/HSST
Ngày 22/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Trung Hiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Trí

Ông Võ Thành Hưng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lai Ngọc Trí - Thư ký Tòa án nhân dân quận C.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận C: Ông Phạm Văn Nhủ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2019/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2019/QĐXX ngày 04/10/2019 đối với bị cáo:

Bị cáo: Đinh Trung T, sinh năm 1985

ĐKTT: Cách mạng Tháng Tám, phường C, quận K, thành phố Cần Thơ.

Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Đinh Thành T © và bà Trần Thị Hồng C; Có vợ: Hồ Thị N và 01 con sinh năm 2007.

Tiền án: 04 lần:

+ Ngày 22 tháng 12 năm 2011 bị Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ tuyên phạt 08 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138, điểm h, p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2012.

+ Ngày 27 tháng 9 năm 2013 bị Tòa án nhân dân quận K, thành phố Cần Thơ tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138, điểm p khoản 1 điều 46, điểm g khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/11/2014.

+ Ngày 23 tháng 4 năm 2015 bị Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ tuyên phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138, điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2016.

+ Ngày 26 tháng 9 năm 2016 bị Tòa án nhân dân quận K, thành phố Cần Thơ tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138, điểm p khoản 1, 2 điều 46, điểm g khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/11/2017.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 02/8/2019. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận C, thành phố Cần Thơ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Ông Lê Xuân N, sinh năm 1997 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: đường Nguyễn Việt Dũng, khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Minh A, sinh năm 1993 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: khu vực 3, phường A, quận K, thành phố Cần Thơ.

Ông Cao Chí B, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Phạm Ngũ Lão, khu vực 3, phường A, quận K, thành phố Cần Thơ.

Ông Lê Minh L sinh năm 1963 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: Ngô Văn Sở, phường T, quận K, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau

Khoảng 14 giờ ngày 31 tháng 7 năm 2019 Đinh Trung T điều khiển xe mô tô biển số 65P5 – 6545 chở khách từ quận Kvề quận C, thành phố Cần Thơ. Sau khi trả khách, T điều khiển xe chạy về hướng đường Phạm Hùng thuộc phường B, quận C, T nhìn thấy nhà trọ Ngọc Trân thuộc khu vực Yên Hòa, phường B, quận C không đóng cửa rào nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T dừng xe lại, dẫn xe đi vào bên trong đến cuối dãy nhà trọ, thấy phòng trọ số 9D không khóa cửa, anh Lê Xuân N đang nằm ngủ có để 01 máy laptop và 01 điện thoại di động kế bên, T lấy điện thoại di động bỏ vào túi quần, lấy máy laptop để vào trong áo phía trước bụng rồi điều khiển xe tẩu thoát. T mang điện thoại và laptop bán cho anh Nguyễn Minh An là chủ cửa hàng điện thoại Minh Đăng, địa chỉ: 329A, khu vực 3, phường An Khánh, quận K, thành phố Cần Thơ được số tiền 2.200.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết. (BL 65-66, BL 69-70).

Qua trích xuất camera lực lượng công an mời Đinh Trung T làm việc, tại cơ quan điều tra T đã khai nhận theo đúng nội dung, diễn biến nêu trên (BL 36).

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 65P5 – 6545, số máy VTTJL1P52FMH041116; số khung: RRKWCHXUM5X04116; 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 đôi dép sọc trắng hiệu duwa; 01 áo sơ mi tay dài sọc xanh đen hiệu P.S.FA; 01 laptop hiệu ACER màu xám đen, đối với điện thoại di động hiệu Samsung galaxy S8 không thu hồi được (BL16-17).

Tại kết luận định giá tài sản số 83/TCKH-HĐĐG ngày 02 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 laptop hiệu ACER màu xám đen có giá trị 4.000.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy S8 có giá trị 3.000.000 đồng. Tổng tài sản thiệt hại định giá được là 7.000.000 đồng (BL 20-21).

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận C, thành phố Cần Thơ đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu Lê Xuân N 01 máy laptop hiệu ACER màu xám đen (BL 23).

Đối với Nguyễn Minh An khi mua điện thoại và máy laptop thì anh An không biết tài sản trên do Đinh Minh T trộm cắp mà có nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ không đủ căn cứ để xử lý (BL 79-80).

Đối với xe mô tô biển số 65P5 – 6545 do Cao Chí Bình sở hữu, anh Bình cho T mượn để chạy xe khách, T sử dụng để đi trộm cắp tài sản thì anh Bình không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận C không đủ căn cứ để xử lý (BL 83-84).

Tại cáo trạng số: 32/CT-VKS ngày 24/9/2019 Viện kiểm sát nhân dân quận C đã truy tố Đinh Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với người bị hại Lê Xuân N yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Về phần trách nhiệm hình sự thì giải quyết theo qui định của pháp luật. Về phần trách nhiệm dân sự thì yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị điện thoại Samsung bị mất là 3.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại N số tiền 3.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không điều chỉnh.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Minh A, Cao Chí B, Lê Minh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Ông A, ông L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông B có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra. Ông B có yêu cầu nhận lại xe mô tô biển số 65P5 – 6545, ông A không có yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc điện thoại Samsung galaxy S8 đã mua cho nên Tòa án áp dụng Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt ông B, ông A, ông L.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật Hình sự; đề N mức án đối với bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù giam. Về phần trách nhiệm dân sự thì ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Lê Xuân N số tiền 3.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng thì đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 đôi dép sọc trắng hiệu duwa; 01 áo sơ mi tay dài sọc xanh đen hiệu P.S.FA; đề nghị trả cho Cao Chí B xe mô tô biển số 65P5 – 6545, số máy VTTJL1P52FMH041116; số khung: RRKWCHXUM5X04116; ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận C trả lại 01 máy laptop hiệu ACER cho bị hại N.

Hội đồng xét xử nhận thấy; Qua phần kết quả xét hỏi công khai và tranh luận tại phiên tòa, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 14 giờ ngày 31 tháng 7 năm 2019 Đinh Trung T đã có hành vi lấy trộm 01 máy laptop hiệu ACER và 01 điện thoại di động hiệu galaxy S8 của bị hại Lê Xuân N. Tại kết luận định giá tài sản số 83/TCKH-HĐĐG ngày 02 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 laptop hiệu ACER màu xám đen có giá trị 4.000.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung galaxy S8 có giá trị 3.000.000 đồng. Tổng tài sản thiệt hại định giá được là 7.000.000 đồng. Bị cáo T đã bị kết án theo tình tiết tái phạm về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý cho nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận C truy tố bị cáo Đinh Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn chính xác, có căn cứ.

Bị cáo là người đã thành niên, có đủ nhận thức về hành vi phạm tội của mình nhưng vì lười lao động, thích hưởng thụ mà không cần phải làm. Bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sỡ hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Hành vi của bị cáo cần thiết phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo giúp bị cáo sống có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại N số tiền 3.000.000 đồng được qui định tại điểm s khoản 1 và 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Xét, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp và có cơ sở chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Lê Xuân N số tiền 3.000.000 đồng. Việc thỏa thuận bồi thường này của bị cáo và bị hại không trái với qui định của pháp luật cho nên Hội đồng xét xử ghi nhận không điều chỉnh.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an quận C trả lại 01 máy laptop hiệu ACER cho bị hại Lê Xuân N; Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 đôi dép đen sọc trắng hiệu duwa; 01 áo sơ mi tay dài sọc xanh đen hiệu P.S.FA; trả cho Cao Chí B xe mô tô biển số 65P5 – 6545, số máy VTTJL1P52FMH041116; số khung: RRKWCHXUM5X04116 theo Lệnh nhập kho vật chứng số 44 ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận C (Bl 24).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật. Xét, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn cho nên miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Đinh Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm g khoản 2 điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Áp dụng: Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử phạt: Đinh Trung T 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Lê Xuân N số tiền 3.000.000 đồng. Việc thỏa thuận bồi thường này của bị cáo và bị hại không trái với qui định của pháp luật cho nên Hội đồng xét xử ghi nhận không điều chỉnh.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an quận C trả lại 01 máy laptop hiệu ACER cho bị hại Lê Xuân N; Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 đôi dép đen sọc trắng hiệu duwa; 01 áo sơ mi tay dài sọc xanh đen hiệu P.S.FA; trả cho Cao Chí Bình xe mô tô biển số 65P5 – 6545, số máy VTTJL1P52FMH041116; số khung: RRKWCHXUM5X04116 theo Lệnh nhập kho vật chứng số 44 ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận C (Bl 24).

Bị cáo Đinh Trung T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí Dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án, bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt; trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ