vanban.org

Bản án 54/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/2/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô H phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2019/HSST
Ngày: 20-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Bùi Thị Cẩm Vân

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí quận Bình Thạnh

2/ Ông Lê Hữu Luân

Nghề nghiệp: Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học Lam Sơn, phường 2, quận Bình Thạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Tuyết Vân- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2019/HSST ngày 25/4/2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/QĐXX ngày 06/5/2019 đối với bị cáo:

Ngô H; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Út; Sinh năm: 1972; Tại: Tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Phụ việc nhà; Chức vụ: không; Trình độ học vấn: 7/12; Họ tên cha: Ngô K; Họ tên mẹ: Nguyễn Q; Anh,chị, em: có 07 người, bị cáo là người con thứ 7; Chồng: Nguyễn P; Con: có 02 con, lớn sinh năm: 1992, nhỏ sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không.

Lịch sử bản thân: Ngày 28/6/2012 Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 35). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 29/4/2013 và đã thi hành xong án phí.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/02/2019 (Bị cáo có mặt tại phiên toà)

Người bị hại: Bà Bùi T (vắng mặt)

Địa chỉ: Căn hộ 2017 tòa nhà V, đường Đ, phường H, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua Công ty L số a, đường T, phường H, quận 3, chị Bùi T thuê Ngô H làm người giúp việc nhà bao ăn với mức lương 6.000.000 đồng/tháng. Do cửa nhà chị Hạnh sử dụng mật mã để mở cửa nên Hà biết mất khẩu nên có thể tự do ra vào.

Khoảng 8 giờ ngày 03/02/2019 (29 tết) chị Bùi H cùng gia đình đi du lịch Nha Trang nên cho H về quê ăn tết nên không bảo H giữ nhà, do đó H cũng đi ra khỏi nhà để về quê, nhưng sau đó bà T điện thoại cho H quay lại nhà bán dùm 02 cây đào cho khách, nên khoảng 16 giờ cùng ngày, H quay lại nhà chị T bán 02 cây đào được 2.900.000 đồng và báo cho bà T biết thì được bà T cho 2.000.000 đồng để về quê ăn tết, còn 900.000 đồng kêu H để lại trên bàn thờ, sau đó H ở nhà bà T đến khoảng 12 giờ, ngày 04/02/2019 thì đi ra Bến xe Miền Tây để đón xe về quê nhưng không đón được xe và bị kẻ gian móc túi lấy hết tiền nên H đến nhà Bùi Văn T (tự chim sâu), tại số A, ,KP1, phường T, quận Bình Tân chơi. Đến khoảng 13 giờ, ngày 07/2/2019 (nhằm ngày 03/01/2019 AL) do cần tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định quay lại nhà bà T trộm tài sản. Để thực hiện ý định, H đón xe ôm quay lại nhà bà T và bấm mã số khóa cửa đi vào nhà lấy trộm 900.000 đồng trên bàn thờ và lấy 01 thẻ cư trú, chìa khóa xe xuống tầng hầm giữ xe lấy trộm xe mô tô hiệu Yamaha Janus biển số: 59X3 – 181.24 của bà T chạy đến nhà Bùi Văn T. Tại đây H đưa chìa khóa cùng chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Janus biển số: 59X3 – 181.24 cho T để làm tin và mượn T số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi mượn được tiền, H tắt máy điện thoại ở lại khu vực nhà T chơi đến ngày 09/02/2019 thì về quê ở Thị xã L, Đồng Tháp. Ngày 9/2/2019 chị T đi du lịch về nhà phát hiện mất tài sản và có gọi cho H nhưng H tắt máy nên đến trình báo cơ quan công an. Đến ngày 13/02/2019 thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh đưa H về trụ sở làm việc và thu giữ số tiền 4.000.000 đồng mà H mượn của T.

Qua quá trình điều tra, Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Bình Thạnh H đã khai nhận hành vi trên. Tiến hành chỉ điểm nhà Bùi Văn T và thu hồi xe mô tô hiệu Yamaha Janus biển số: 59X3 – 181.24.

Đối với 3kg yến sào mà bà T trình báo bị mất trộm thì H không thừa nhận lấy trộm. Tiến hành lấy lời khai của bà T thì bà T xác định không bị mất trộm 3kg yến sào như đã tố giác.

Căn cứ thông báo kết luận số 75 ngày 13/3/2018 của phòng tài chính kế hoạch-Uỷ ban nhân dân quận Bình Thạnh kết luận: 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Yamaha Janus màu đen biển số: 59X3 – 181.24 trị giá 23.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 64/Ctr - VKS ngày 18/4/2019 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Ngô H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Taïi phieân toøa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Ngô H về tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

+ Về xử lý vật chứng: 02 Đĩa CD chứa dữ liệu camera quay cảnh H lấy trộm xe là chứng cứ vụ án nên đề nghị tịch thu lưu hồ sơ; 01 xe mô tô Yamaha Janus biển sổ: 69X3.181.34 và 01 thẻ cư trú V số 1801 07417 đã trả cho bà Bùi T nên không xem xét; 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 112 xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên đề nghị trả lại cho bị cáo; Số tiền 4.000.000 đồng là tiền H mượn của Bùi Văn T và thế chấp lại chiếc xe mà H lấy trộm của bà T, T không biết chiếc xe trên là xe H phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra đã trả số tiền trên cho Bùi Văn T.

+ Về trách nhiệm dân sự: Bà Bùi T không có yêu cầu gì và ông T không yêu cầu bị cáo H phải hoàn trả số tiền còn lại 1.000.000 đồng.

*Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với camera ghi hình hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa, cho thấy: Bị cáo là người giúp việc cho nhà chị Bùi T tại Căn hộ A, tòa nhà V, đường Đ, phường H, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, do cần tiền tiêu xài và biết gia đình chị T đi du lịch không có ai ở nhà nên khoảng 13 giờ, ngày 07/2/2019 (nhằm ngày 03/01/2019AL), Ngô H đã lén lút vào nhà trộm số tiền 900.000 đồng và chiếc xe mô tô Yamaha Janus biển số: 59X3-181.24 theo kết luận định giá có trị giá 23.000.000 đồng của chị Bùi T, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 23.900.000 đồng. Với hành vi nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật, chỉ vì cần tiền tiêu xài lười lao động bị cáo đã cố ý phạm tội, gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo đã bị Toà án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, mặc dù bản án này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo không lấy đây là bài học để sửa chữa bản thân lại tiếp tục phạm tội với hành vi tương tự, thể hiện bản chất coi thưòng pháp luật nên cần phải áp dụng một mức phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi và nhân thân của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

Về xử lý vật chứng:

- 02 Đĩa CD chứa dữ liệu camera quay cảnh H lấy trộm xe là chứng cứ của vụ án nên cần tịch thu lưu hồ sơ; 01 xe mô tô Yamaha Janus biển sổ: 59X3.181.24 và 01 thẻ cư trú V số 1801 07417 Cơ quan điều tra đã trả cho bà Bùi T là đúng theo quy định của pháp luật; 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 112 xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo; Số tiền 4.000.000 đồng là tiền của Bùi Văn T cho H mượn có thế chấp lại chiếc xe mà H lấy trộm của bà T, T không hề biết chiếc xe trên là xe H phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho Bùi Văn T là đúng theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Bùi T không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 900.000 đồng và ông T cũng không yêu cầu bị cáo H phải hoàn trả số tiền còn lại 1.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ngô H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/2/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu lưu hồ sơ 02 Đĩa CD chứa dữ liệu camera quay cảnh H lấy trộm xe.

- Trả lại cho bị cáo H 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 112.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/04/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và Lê phí; Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng aùn phí, leä phí Toøa aùn. Buoäc bò caùo phaûi noäp 200.000 (Hai traêm ngaøn ñoàng) ñoàng aùn phí hình söï nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ