vanban.org

Bản án 54/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lƣờng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Các bị cáo Lƣờng Văn N và Lƣờng Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Lƣờng Văn H 25 (hai mƣơi năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/02/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn H và đồng phạm, phạm tội Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lƣờng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số:54/2019/HSST
Ngày 27- 6- 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vì Văn Đôi, ông Hà Văn Cƣơng.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2019/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 51/2019/HSST-QĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lường Văn H (tên gọi khác: Không), sinh 20/10/1999. Nơi sinh tại Sông Mã, Sơn La.

Nơi ở và ĐKHKTT: Bản P, xã NT, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt N; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Lƣờng Văn T; con bà Lƣờng Thị L, vợ con chƣa có. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 31/5/2018 bị UBND xã NT ra Quyết định áp dụng giáo dục tại xã với thời gian 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/02/2019 cho đến nay có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Lường Văn N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/02/1997. Nơi sinh Sông Mã - Sơn La.

Nơi ở và ĐKHKTT: Bản B, xã NN, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch Việt N; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Lƣờng Văn Tr; con bà Quàng Thị N, vợ con chƣa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/02/2019 cho đến nay có mặt tại phiên toà.

3. Họ và tên: Lường Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/01/1998. Nơi sinh Sông Mã - Sơn La.

Nơi ở và ĐKHKTT: Bản B, xã NN, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch Việt N; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Lƣờng Văn T1; con bà Lƣờng Thị T2, vợ con chƣa có.

Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 05/02/2018 bị UBND xã NN, huyện Sông Mã ra Quyết định áp dụng giáo dục tại xã với thời gian 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/02/2019 cho đến nay có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lƣờng Văn T1, sinh năm 1976, trú tại bản B, xã NN, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Chị Lƣờng Thị T3, sinh năm 2001, trú tại: Bản N, xã NN, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

3. Ngƣời đại diện hợp pháp cho chị Tƣởng bà Lò Thị K (mẹ đẻ chị T3), trú tại bản N, xã NN, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 23 giờ 00 phút ngày 20/02/2019 tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã Chiềng Sơ, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại khu vực bản QT, xã CS, huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang Lƣờng Văn Đ và Lƣờng Văn N đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu tại túi áo khoác bên phải của Lƣờng Văn N 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 gói nilon màu hồng chứa chất bột màu trắng và màu hồng (nghi là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn tạm giữ của Lƣờng Văn Đ 01 xe mô tô BKS 26C1-099.88, tạm giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã Lƣờng Văn N, Lƣờng Văn Đ khai số ma túy trên mua đƣợc của Lƣờng Văn H với số tiền 100.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã tiến hành triệu tập H đến làm việc, H đã thừa nhận toàn bộ hành vi bán ma túy cho N và Đ. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã ra Lệnh giữ ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp đối với Lƣờng Văn H.

Ngày 21/02/2019 tại Phòng ky thuâ ̣̃

t hinh sƣ̣ Công an tinh Sơn La đã ti ến hành̉

̀

mở niêm phong, cân tịnh trích mẫu vật chứng gửi giám định. Kết quả : Số chất bột màu trắng lẫn màu hồng thu giữ của N và Đ có khối lƣợng 0,19 gam. Kết quả giám định là ma túy loại Heroine và Methamphetamine.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Lƣờng Văn H, Lƣờng Văn N, Lƣờng Văn Đ quen biết nhau từ đầu năm 2019 và thƣờng xuyên sử dụng ma túy. Khoảng 15 giờ ngày 19/02/2019 H mua đƣợc của ngƣời đàn ông dân tộc mông không quen biết tại khu vực chợ bản P, xã NT, huyện Sông Mã 01 gói ma túy (trong đó có cả Heroine và hồng phiến trộn lẫn với nhau) với giá 150.000 đồng, H mang về nhà trích một phần ra sử dụng, còn lại H gói trong mảnh túi nilon màu hồng rồi cất ở túi quần đang mặc. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/02/2019 H đi chơi và mang theo gói ma túy.

Đến khoảng 22 giờ 10 phút ngày 20/02/2019 khi đang giúp đám cƣới tại bản Mƣờng B, xã Chiềng Sơ N và Đ rủ nhau đi chơi khi đến bản NL, xã CS, huyện Sông Mã thì gặp H và một số thanh niên đang ngồi chơi ven đƣờng N và Đ dừng lại nói chuyện trong lúc nói chuyện H hỏi và bán cho N và Đ 01 gói ma túy mà H mang theo với gái 100.000 đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N và Đ về đến bản QT, xã CS thì bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã và Công an xã CS làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng và đồ vật, phƣơng tiện liên quan. Tại Cơ quan điều tra N và Đ khai mua số ma túy trên của Lƣờng Văn H tổ công tác mời H về Công an làm việc H đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán ma túy nhƣ trên.

Nguồn gốc số Heroine và Methamphetamine bị thu giữ trong vụ án H khai mua đƣợc của một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại bản P, xã NT, huyện Sông Mã. Quá trình điều tra H không biết tên, tuổi cụ thể nên không có căn cứ để mở rộng điều tra.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 26C1-099.88 N và Đ sử dụng đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định xe có đăng ký và là tài sản hợp pháp của Lƣờng Văn T1 (bố đẻ của Đ). Khi Đ sử dụng xe đi mua ma túy anh T1 không biết nên không đặt vấn đề xử lý.

Đối với chiếc điện thoại OPPO tạm giữ của Lƣờng Văn N là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị Lƣờng Thị T3 (bạn của N). N mƣợn điện thoại vào trƣa ngày 20/02/2019 để sử dụng vào mạng xã hội nhƣng chƣa trả, quá trình sử dụng N không dùng để trao đổi việc mua bán ma túy.

Do các hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSSM ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố các bị cáo Lƣờng Văn H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Lƣờng Văn N và Lƣờng Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lƣờng Văn H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và Lƣờng Văn N và Lƣờng Văn Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lƣờng Văn H từ 24 đến 28 tháng tù.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lƣờng Văn N từ 14 đến 18 tháng tù; Lƣờng Văn Đ từ 14 đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1,2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 túi Nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong ban đầu.

- Trả cho anh Lƣờng Văn T2 01 xe mô tô; cho chị Lƣờng Thị T3 01 điện thoại di động. Truy thu số tiền 100.000đ của bị cáo Lƣờng Văn H. Tuyên quyền kháng cáo và các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo đƣợc chứng minh bằng các chứng cứ sau:

Các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ khác. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội nhƣ bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 06 phút ngày 20/02/2019 của Công an huyện Sông Mã và ban Công an xã CS tại bản QT, xã CS đối với Lƣờng Văn N và Lƣờng Văn Đ cùng vật chứng thu giữ là 01 gói nilon màu hồng có chứa chất bột màu trắng và màu hồng, lời khai ngƣời làm chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lƣợng vật chứng hồi 14 giờ 30 phút ngày 21/02/2019, kết luận giám định số 497 ngày 25/02/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La cùng các tài liệu chứng cứ đã đƣợc thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 20 tháng 02 năm 2019 Lƣờng Văn H bán cho Lƣờng Văn N và Lƣờng Văn Đ 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng có khối lƣợng 0,19 gam loại Heroine và Methamphetamine khi đang vận chuyển bị bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo Lƣờng Văn N và Lƣờng Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi của Lƣờng Văn H bán ma túy cho Lƣờng Văn N và Lƣờng Văn Đ có khối lƣợng 0,19 gam loại Heroine và Methamphetamine đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nƣớc, ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Các bị cáo nhận thức hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhƣng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó các bị cáo phải chịu sự trừng phạt của pháp luật.

Xét về nhân thân: Các bị cáo đều không có tiền án nhƣng bị cáo Lƣờng Văn H và Lƣờng Văn Đ đều có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đang bị UBND xã áp dụng giáo dục tại xã. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành ngƣời có ích cho gia đình, xã hội và nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên đƣợc hƣởng chung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Lƣờng Văn N và Lƣờng Văn Đ sau khi bị bắt còn tích cực hợp tác với cơ quan điều tra phát hiện ra tội phạm nên đƣợc hƣởng chung 01 tình tiết quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về vai trò đồng phạm của từng bị cáo: Đây là vụ án với đồng phạm giản đơn, Lƣờng Văn N là ngƣời bỏ tiền ra mua và giấu ma túy nên giữ vai trò chính, Lƣờng Văn Đ ngƣời cổ vũ về mặt tinh thần nên giữ vai trò đồng phạm trong vụ án. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, vai trò, nhân thân và khối lƣợng ma túy của các bị cáo mua bán, tàng trữ để quyết định mức án phù hợp.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo biên bản xác minh và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, xác định các bị cáo sống phụ thuộc gia đình không có tài sản riêng và gia đình hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với số tiền 100.000 đồng bị cáo Lƣờng Văn H bán ma túy cho các bị cáo Lƣờng Văn N, Lƣờng Văn Đ đây là số tiền bị cáo H thu lợi bất chính nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.

Về vật chứng của vụ án: Đối 01 túi Nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong ban đầu là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS 26C1 – 099.88 tạm giữ của bị cáo Đ quá trình điều tra, xác định là tài sản hợp pháp của ông Lƣờng Văn T1 (bố bị cáo Đ) bị cáo Đ mang xe đi mua ma túy ông T1 không biết nên cần trả cho ông T1.

Đối với 01 chiếc điện thoại tạm giữ của bị cáo N quá trình điều tra, xác định là tài sản hợp pháp của chị Lƣờng Thị T2 (bạn gái của N) do N mƣợn nên cần trả lại cho chị Tƣởng.

Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết đã bán ma túy cho bị cáo Lƣờng Văn H tại khu chợ bản P, xã NT quá trình điều tra không xác minh đƣợc tên tuổi địa chỉ cụ thể, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đúng quy định.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lƣờng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Các bị cáo Lƣờng Văn N và Lƣờng Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

2. Xử phạt: Bị cáo Lƣờng Văn H 25 (hai mƣơi năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/02/2019).

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo: - Lƣờng Văn N 14 (mƣời bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/02/2019).

- Lƣờng Văn Đ 14 (mƣời bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/02/2019).

Truy thu số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) của bị cáo Lƣờng Văn H để nộp ngân sách Nhà nƣớc.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 mảnh Nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.

- Trả lại cho ông Lƣờng Văn T1 01 chiếc xe mô tô hiệu HONDA, loại xe BLADE, màu sơn trắng, BKS 26C1-09988, số khung RLHJA 3619EY003099, số máy JA36E0009704, xe đã cũ đã qua sử dụng.

- Trả lại cho chị Lƣờng Thị T2 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO vở màu đỏ, số imel: 861570047770979, đã cũ đã qua sử dụng.

(Tang vật đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La theo biên bản giao nhận vật chứng, ngày 29 tháng 5 năm 2019).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14.

Bị cáo Lƣờng Văn H, Lƣờng Văn N và Lƣờng Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời liên quan đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ