- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Huỳnh Như Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54 /2019/HSST Ngày: 26- 7- 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH,
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Vinh
Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Lâm Ngọc Trao.
2 Bà Lê Thị kim Xuyến
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, xét xử sử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2019/HSST ngày 09/7/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/HSST-QĐ ngày 10/07/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Huỳnh N. Sinh năm 1997 tại tỉnh An Giang. CMND số: 352287936, cấp ngày 16/02/2011, nơi cấp: Công an tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp Phú H, xã Phú H, huyện An P, tỉnh An Giang. Chỗ ở: Ấp 4, xã Hiệp P, huyện Nhơn T, tỉnh Đồng N. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 8/12. Tôn giáo: Hòa Hảo.Họ tên cha: Nguyễn Hà Khải (Sinh năm 1976). Họ tên mẹ: Trương Thị Nhung ( Sinh năm: 1977; Có chồng tên: Nguyễn Văn Giàu (sinh năm 1992) và có 01 con sinh năm 2017.Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo được tại ngoại ( có mặt ).
* Người bị hại:
- Chị Nguyễn Thị T – sinh năm 1980
Nơi cư trú: Ấp V, xã T, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt).
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn G – SN 1992
Nơi cư trú: xã P, huyện An Phú, tỉnh An Giang
- Anh Trịnh Văn N– sinh năm 1964
Nơi cư trú: xã Phú Lợi, huyện An Phú, tỉnh An Giang
- Anh Trương Nguyên T – SN 1996
Nơi cư trú: ấp C , xã T, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
- Anh Đỗ Tuấn K – sinh năm 1974
Nơi cư trú: ấp 3, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
- Chị Lê Thị Kiều O – SN 1993
Nơi cư trú: ấp Chợ, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
- Chị Phan Thị Hồng N– sinh năm 1991
Nơi cư trú: ấp 2, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
- Chị Trần Thị P– sinh năm 1991
Nơi cư trú: ấp 2, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
(Anh Giàu, anh Nghĩa, anh Thái, anh Khanh, Chị Oanh, chị Nguyên, chị Phúc -Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Huỳnh N là công nhân của Công ty Ching Fa thuộc khu công nghiệp 2, huyện Nhơn Trạch. Vào lúc 12 giờ 10 phút ngày 05/12/2018, Như đến chỗ cất giữ tư trang tập thể để cất chiếc thẻ công nhân thì thấy 01 cái áo khoác màu tím của chị Nguyễn Thị Thúy (là đồng nghiệp làm chung phân xưởng) để gần áo khoác của Như. Như mở túi áo khoác màu tím của chị Thúy ra thì thấy có 01 chiếc ví, bên trong ví có số tiền 2.000.000 đồng gồm 04 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ giấy hợp đồng cầm 01 nhẫn bông bằng vàng 24k trọng lượng 1 chỉ 5 phân 01 ly tại tiệm vàng Kim Ton nên Như đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của chị Thúy. Như liền trộm cắp 2.000.000 đồng và tờ giấy hợp đồng cầm vàng cất giấu vào túi áo của mình, để ví lại chỗ chiếc áo của chị Thúy. Đến 16 giờ cùng ngày, Như đi ra ngoài cho chồng là Nguyễn Văn Giàu (sinh năm 1992), cư trú tại: xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 67X1-6339 đến chở về phòng trọ tại ấp 4, xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch. Đến 16 giờ 50 phút cùng ngày, Như điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 67X1-6339 (đây là xe của anh Giàu, Như tự lấy không nói cho anh Giàu biết) đến tiệm vàng Kim Ton ở xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch đưa tờ giấy hợp đồng cho nhân viên và sử dụng 2.000.000 đồng (tiền riêng của Như) và 5000 đồng tiền lãi chuộc lại chiếc nhẫn vàng 01 chỉ 05 phân 01 ly loại vàng 24k như ghi trên tờ biên nhận mà chị Thúy cầm tại đây. Sau đó, Như đến tiệm vàng Kim Khanh ở gần đó bán chiếc nhẫn vàng của chị Thúy được số tiền 5.000.000 đồng, Như mua đồ ăn và tiêu xài còn lại số tiền 2.400.000 đồng. Đến 20 giờ 10 phút cùng ngày chị Thúy phát hiện mất tiền và giấy cầm vàng nên đến Đồn Công an Khu công nghiệp Nhơn Trạch trình báo. Ngày 08/12/2018, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Như đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch để đầu thú và giao nộp số tiền 2.400.000 đồng.
- Tại Kết luận định giá tài sản số: 02/KLĐG-HĐĐG ngày 07/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nhơn Trạch kết luận: 01 nhẫn đeo tay bằng vàng 24k, trọng lượng 1,51 chỉ có giá trị là: 5.600.000 đồng (năm triệu, sáu trăm ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số 54/CT.VKS ngày 01/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh N về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị :
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; BLHS; xử phạt Nguyễn Thị Huỳnh N :
Từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giam nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[ 1 ]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình , xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai người làm chứng, người bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Như đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Thúy số tiền là 2.000.000đ và 01 tờ giấy hợp đồng cầm 01 nhẫn bông vàng 24k trọng lượng 1,51 chỉ, có giá trị là 5.600.000đ. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo về tội: “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, là đúng người, đúng tội.
3Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, tài sản hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Cần có mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ra đầu thú, người bị hại đã làm đơn bãi nại về dân sự và xin miễn hình phạt cho bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; người phạm tội là phụ nữ có thai nên xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục là đủ nghiêm. Cần áp dụng các điểm b, h, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS 2015 đối với bị cáo
4Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thúy đã nhận lại số tiền 5.500.000đ, đã làm đơn bãi nại, không có yêu cầu gì khác .
. Vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền 5.500.000đ cho chị Nguyễn Thị Thúy.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS 2015;
Xử phạt: Nguyễn Thị Huỳnh N 08 ( tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01( một) năm 04 ( bốn) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao Nguyễn Thị Huỳnh N cho Ủy ban nhân dân xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
* Về án Phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận : - TA tỉnh ĐN; - VKS,THA,CA huyện; - Bị cáo; bị hại - Lưu hồ sơ,TA. Vinh | Nguyễn Phước |