- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Hoàng Hiệp phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Vũ Hoàng H phạm tội Trộm cắp tài sản; Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2019/HS-ST Ngày 27- 6-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sự.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Điệu,
2. Ông Hoàng Đắc Hân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Mến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2019/HSST ngày 03 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2019/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 12 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2019/HSST-QĐ ngày 04 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Vũ Hoàng H, sinh năm 1993, tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn 5, xã T, huyện T, thành phố H; nghề ngH: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Quốc T, sinh năm 1969 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1971; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/10/2018; Có mặt.
- Bị hại:
+ Anh Phạm Quang P, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số 05, Nguyễn Văn T, phường Q, quận H, thành phố H; Vắng mặt.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và phát triển T; Địa chỉ trụ sở: Thôn 02, xã T, huyện T, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1967 – Chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.
+ Công ty TNHH X; Địa chỉ trụ sở chính: Xóm C, xã T, huyện T, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn B – Chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Lê Văn V, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
+ Anh Đinh Văn T, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn 4A, xã T, huyện T, thành phố H; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như nội dung:
Ngày 04/9/2018 ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1967, ở thôn 2, xã T, huyện T có đơn trình báo về việc Công ty TNHH T (sau đây gọi tắt là Công ty T) do ông làm giám đốc bị mất trộm 03 bình ắc quy của máy xúc hiệu KUBOTA KH8; máy khoan cọc hiệu Komatsu PC 60-1 và máy khoan cọc hiệu Komatsu PC 60-2, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Thủy Nguyên đã kiểm tra Camera an ninh của Công ty T xác định đối tượng trộm cắp là Vũ Hoàng H. Đến khoảng 15 giờ ngày 04/9/2018, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã triệu tập H đến làm việc. Tại cơ quan điều tra H đã khai nhận hành vi của mình như sau: Trước đây H làm nghề sửa chữa ô tô nên biết cách tháo trộm bình ắc quy xe ô tô, máy xúc, do không có tiền ăn tiêu nên H đã nảy sinh ý định tháo trộm bình ắc quy xe ô tô, xe máy xúc bán lấy tiền ăn tiêu. Khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 02/9/2018, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát15G1-538.77 mang theo 01 mỏ lết kích thước (200x24)mm đến bãi để xe ô tô và máy xúc của công ty trách nhiệm hữu hạn Tiến Đạt ở thôn 2, xã T, huyện T. Thấy không có người trông coi, H vào dùng mỏ lết tháo lấy 03 bình ắc quy gồm: 01 bình ắc quy nhãn hiệu Shin Kobe – denki, loại 12-80AH, kích thước (16,5x22,5x19x5)cm của máy xúc hiệu KUBOTA KH18; 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai, loại 12V-100AH, kích thước (40x16,5x20)cm của máy khoan cọc hiệu Komatsu PC 60-1; 01 bình ắc quy nhãn hiệu Enimac loại 12V-100AH, kích thước (40x16,5x20)cm của máy khoan cọc hiệu Komatsu PC 60-2. Sau đó, H cho 03 bình ắc quy lên võng xe mô tô rồi mang đến nhà anh Lê Văn V, sinh năm 1988, ở thôn P, xã T, huyện T nói với anh V 03 bình ắc quy cũ xủa H dọn kho không sử dụng. Anh V không biết 03 bình ắc quy do H phạm tội mà có nên đã đồng ý mua với số tiền 1.150.000 đồng. H nhận tiền rồi sử dụng ăn tiêu hết.
Ngoài ra, H còn khai nhận đã nhiều lần thực hiện hành vi lấy trộm bình ắc quy xe ô tô trên địa bàn huyện Thủy Nguyên như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 31/8/2018, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 15G1-538.77 đến khu vực bãi để xe ô tô tại thôn 5, xã T, huyện T, thành phố H. Phát hiện thấy 02 xe ô tô tải BKS 16N-2084 và 37C-008.05 của anh Phạm Quang P, sinh năm 1973, ở phường Q, quận H để ở đó không có người trông coi. H đi vào dùng mỏ lết tháo 04 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai, loại 12V-100AH, kích thước (40x17x20)cm của 02 xe ô tô trên rồi cho lên võng xe mô tô. H điều khiển xe mô tô mang 04 bình ắc quy đến nhà ông Đinh Văn T, sinh năm 1968, ở thôn 4A, xã T, huyện T, H nói đây là bình ắc quy của H không sử dụng nữa và bán cho ông T số tiền 2.400.000 đồng. Số tiền này H ăn tiêu một mình hết.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/9/2018, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 15G1-538.77 đến bãi để xe ô tô của công ty trách nhiệm hữu hạn X (Công ty X) ở thôn Đường 10, xã T, huyện T do ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1964, ở thôn P, xã T, huyện T làm giám đốc. Quan sát thấy không có người trông coi nên H dùng mỏ lết tháo 02 bình ắc quy nhãn hiệu Hitachi, loại 12V-150AH, kích thước (50x21x20)cm của xe ô tô BKS 15B-033.18, H dùng xe mô tô chở 02 bình ắc quy đến điểm thu mua phế liệu của ông Đinh Văn T. H nói với ông T bình ắc quy của H không sử dụng và bán cho ông T 1.280.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã tạm giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 15G1-538.77, 01 mỏ lết kích thước (200x24)mm và số tiền 1.280.000 đồng. Quá trình điều tra, Vũ Hoàng H đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an số tiền 3.550.000 đồng là tiền H bán các bình ắc quy cho anh Lê Văn V và ông Đinh Văn T mà có. Sau khi được Cơ quan điều tra T báo việc mua các bình ắc quy do H phạm tội mà có, ông Đinh Văn T đã tự nguyện giao nộp 06 bình ắc quy các loại, anh Lê Văn V đã tự nguyện giao nộp 03 bình ắc quy các loại cho Cơ quan điều tra. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã trả lại các bình ắc quy trên cho anh Phạm Quang P, Công ty T, Công ty X sử dụng.
Tại các bản Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủy Nguyên ngày 10/9/2018 kết luận: 04 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai, loại 12V-100AH, kích thước (40x17x20)cm của anh Phạm Quang P trị giá 7.200.000 đồng; 01 bình ắc quy nhãn hiệu Shin Kobe-denki, loại 12V-50AH, kích thước (16,5x22,5x9x5)cm trị giá 900.000 đồng; 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai, loại 12V-100AH, kích thước (40x16,5x20)cm trị giá 2.000.000 đồng; 01 bình ắc quy nhãn hiệu Enimac, loại 12V-100AH, kích thước 40x16,5x20)cm của Công ty T trị giá 1.200.000 đồng; 02 bình ắc quy nhãn hiệu Hitachi, loại 12V-150AH, kích thước (50x21x20)cm của Công ty X trị giá 4.600.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 15.900.000 đồng.
Về dân sự: Ông Phạm Quang P và đại diện Công ty T, Công ty X đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Ông Đinh Văn T, anh Lê Văn V không yêu cầu H phải bồi thường số tiền đã bỏ ra để mua bình ắc quy.
Bản cáo trạng số: 137/CT-VKS gày 28/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên đã truy tố Vũ Hoàng H về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Hoàng H khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố Vũ Hoàng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và đề nghị, Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm g, khoản 1, Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vũ Hoàng H từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng của vụ án, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius màu trắng đen, biển kiểm soát 15G1-538.77; tịch thu tiêu hủy 01 mỏ lết bằng kim loại kích thước (200 x24)mm đã qua sử dụng và tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 4.830.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0000129 ngày 27/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; Bị cáo Vũ Hoàng H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Bản kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ căn cứ kết luận: Do không có tiền ăn tiêu nên ngày 31/8/2018 lợi dụng sơ hở của chủ tài sản Vũ Hoàng H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Phạm Quang P là 04 bình ắc quy trị giá 7.200.000đồng; ngày 02/9/2018 bị cáo chiếm đoạt của Công ty T 03 bình ắc quy trị giá 4.100.000 đồng và 02 bình ắc quy của Công ty X trị giá 4.600.000 đồng vào ngày 04/9/2018. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 15.900.000 đồng. Với hành vi trên, bị cáo Vũ Hoàng H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng số 137/CT-VKSTN ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo như đã nêu trên là đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo.
. Xem xét đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân bị cáo, tính chất vụ án và quyết định hình phạt:
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo chiếm đoạt tài sản của anh Phạm Quang P, Công ty T và Công ty X đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo ra tự thú đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử, xét: Tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, song bị cáo không chịu khó lao động vì muốn có tiền ăn tiêu bị cáo đã 03 lần chiếm đoạt tài sản của người khác điều đó thể hiện ý thức, thái độ coi thường pháp luật của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
. Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 5 Điều 138 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra, xác định bị cáo là người không có nghề ngH ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Quang P và đại diện công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và phát triển T, công ty trách nhiệm hữu hạn X đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Ông Đinh Văn T, anh Lê Văn V không yêu cầu H phải bồi thường số tiền đã bỏ ra để mua bình ắc quy, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: Các vật chứng của vụ án cần xử lý gồm có:
- 01 mỏ lết bằng kim loại, kích thước (200 x 24) mm đã qua sử dụng, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha số loại sirius màu trắng đen biển kiểm soát,15G1-538.77 đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.
- Số tiền 4.830.000 đồng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000129 ngày 27/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với ông Đinh Văn T, anh Lê Văn V mua các bình ắc quy của H nhưng không biết là tài sản do H trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo Vũ Hoàng H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm r, s, khoản 1, Điều 51; Điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên bố:
- Bị cáo Vũ Hoàng H phạm tội Trộm cắp tài sản; Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Hoàng H không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 89, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 01 mỏ lết bằng kim loại, kích thước (200 x 24) mm đã qua sử dụng
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha số loại sirius màu trắng đen biển kiểm soát 15G1-538.77.
Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 4.830.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0000129 ngày 27/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Vũ Hoàng H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hoặc niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện Thủy Nguyên; - VKSND TP Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên; - Công an huyện Thuỷ Nguyên; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - PV 27 công an TP Hải Phòng. - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo - Hồ sơ vụ án; -Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự |