vanban.org

Bản án 54/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ph t: Bị cáo Ph m Văn Th (tên gọi khác: Thọ) 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù, về toäi “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”. Thời h n tù tính kể từ ngày 09/11/2018.

Về hình ph t bổ sung: Không ph t bổ sung đối với bị cáo Ph m Văn Th (tên gọi khác: Thọ). Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các Điều: 584, 585, 586, 589, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Boä luaät daân söï năm 2015 cùng Luật Thi hành án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "54 - 2019 - Pham Van Th K1. 174 (Lừa đảo) - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Xử ph t: Bị cáo Ph m Văn Th (tên gọi khác: Thọ) 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù, về toäi “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”. Thời h n tù tính kể từ ngày 09/11/2018.
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2019/HS-ST
Ngày: 29 – 3 – 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Năm.

2/ Bà Thái Thục Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Ngọc Linh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 3 năm 2019 t i trụ s Tòa án nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2019/QĐXXST-HS ngày 15/3/2019 đối với bị cáo:

Ph m Văn Th (tên gọi khác: Thọ); giới tính: Nam; sinh năm: 1972 t i Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); nơi cư trú: (Nơi đăng ký HKTT: Không có; nơi đăng ký t m trú: Số 8/10/4 Đường LTP, Phường ML, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ : Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Châu D © và bà Ph m Kim H; vợ, con: Chưa có; tiền án: T i bản án số 80/2005/HSST ngày 14/7/2005 Tòa án nhân dân Quận M2 Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản‟‟; chấp hành xong hình ph t tù ngày 16/9/2008. T i bản án số 353/2010/HSST, ngày 30/11/2010, Tòa án nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 02 năm 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản‟‟. T i bản án số 158/2010/HSST, ngày 17/12/2010, Tòa án nhân dân Quận M2, Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản‟‟. T i bản án số 173/2011/HSST, ngày 27/6/2011, Tòa án nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản‟‟; tổng hợp hình ph t 07 năm 9 tháng tù theo quyết định tổng hợp hình ph t số 01/QĐ-THHP ngày 16/02/2011 của Chánh án Tòa án nhân dân Quận M2 Thành phố Hồ Chí Minh đối với hai bản án (Bản án số 353/2010/HSST ngày 30/11/2010 của Tòa án nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh và bản án số 158/2010/HSST ngày 17/12/2010 của Tòa án nhân dân Quận M2, Thành phố Hồ Chí Minh) nên bị cáo Ph m Văn Th phải chấp hành hình ph t chung là 09 năm 09 tháng tù; chấp hành xong hình ph t tù ngày 08/9/2017. Nhân thân: Ngày 24/5/1988 bị Công an Quận N2 bắt và t m giữ về hành vi chiếm đo t xe đ p; sau đó bị đưa đi cưỡng bức lao động tr i Tiền Giang. T i bản án số 196/HSST ngày 29/10/1990 Tòa án nhân dân Quận M2 Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản của công dân‟‟ và 06 tháng tù về tội “L m dụng tín nhiệm chiếm đo t tài sản của công dân‟‟; tổng hợp hình ph t của hai tội là 15 tháng tù (Tài sản chiếm đo t trong từng vụ án dưới 2.000.000 đồng). T i bản án số 87/HSST ngày 06/5/1993 Tòa án nhân dân Quận N2 Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản của công dân‟‟ (Tài sản chiếm đo t dưới 2.000.000 đồng). T i bản án số1734 ngày 06/12/1995 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân‟‟ và 42 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản của công dân‟‟; tổng hợp hình ph t của hai tội là 66 tháng tù (Trị giá các tài sản bị chiếm đo t trong từng vụ án dưới 2.000.000 đồng); tiền sự: Không; bị bắt t m giam ngày 09/11/2018. (Có mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn K sinh năm: 1967; nơi cư trú: (Nơi đăng ký HKTT: Ấp Ba Ngàn, xã ĐT thị xã NB tỉnh HG; chỗ : Phòng trọ số 31 nhà trọ số 118-122 Đường ADV, Phường MS, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh). (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Võ Th H sinh năm: 1977; nơi cư trú: Ấp Ba Ngàn xã ĐT thị xã NB tỉnh HG. (Vắng mặt).

2. Ông Võ Minh D nơi cư trú cuối cùng: Số 5/50 Đường TQĐ, Phường N quận PN Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ph m Văn Th và ông Nguyễn Văn K gặp và biết nhau vào ngày 14/7/2018. Khoảng 13 giờ, ngày 15/7/2018, Th đi đến phòng trọ số 31 nhà số 118-122 Đường ADV, Phường MS, Quận T của ông K và rủ ông K nhậu thì được ông K đồng ý. Trong lúc nhậu ông K nói với Th đang cần tiền mua máy móc phục vụ cho công việc. Do Th thấy ông K có xe gắn máy hiệu Honda Air Blade biển số 95E1-438.88 và nảy sinh ý định chiếm đo t xe của ông K, nên Th giả vờ nói sẽ cho ông K mượn tiền. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày 15/7/2018, Th giả vờ kêu ông K đưa xe gắn máy để Th ch tới chợ Bình Điền Phường B, Quận T lấy tiền cho ông K mượn ông K nghe Th nói tư ng là thật nên đồng ý đưa xe gắn máy biển số 95E1-438.88 cho Th ch ông K đi lấy tiền. Khi cả hai đến trước số 130 Đường QTL, Phường B, Quận T thì Th dừng xe và nói ông K đứng đợi để Th ch y xe biển số 95E1-438.88 vào chợ Bình Điền lấy tiền quay l i cho ông K mượn thì ông K đồng ý. Sau đó Th điều khiển xe vào khu vực chợ Bình Điền rồi tẩu thoát. Ông K đứng đợi nhưng không thấy Th quay l i cho mượn tiền và trả xe; nên biết đã bị Th lừa đảo và ông K đến cơ quan Công an trình báo.

Ngày 28/8/2018 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận T kết luận: Trị giá 01 xe gắn máy hiệu Honda Blade màu đen-đỏ biển số 95E1-438.88 là 14.770.000 đồng.

Sau đó vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 05/11/2018; ông K phát hiện Ph m Văn Th đường Nguyễn Trãi Quận N2; nên ông K nhờ Cảnh sát giao thông hỗ trợ mời Th về Công an Phường 11 Quận N2 làm rõ. Công an Phường 11, Quận N2 tiếp nhận vụ việc và thông báo cho Công an Phường B, Quận T đến đưa Th về trụ s để xử lý theo thẩm quyền và Th khai nhận hành vi ph m tội nêu trên. Cơ quan Công an t m giữ của Th 01 xe gắn máy hiệu Wave biển số 54R1-7511. Sau đó vụ việc được lập hồ sơ chuyển giao đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T để điều tra làm rõ.

Ngày 08/11/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T ra Quyết định kh i tố vụ án Quyết định kh i tố bị can và ngày 09/11/2018 bắt t m giam đối với Ph m Văn Th về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”.

T i Cơ quan điều tra Ph m Văn Th khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội nêu trên.

Đối với chiếc xe gắn máy biển số 95E1-438.88, Ph m Văn Th khai: Sau khi chiếm đo t xe gắn máy biển số 95E1-438.88 của ông K, Th sử dụng làm phương tiện ch y xe ôm. Khoảng 01 giờ, ngày 13/9/2018 sau khi nhậu xong Th điều khiển xe biển số 95E1-438.88 đi tìm chỗ ngủ. Trên đường đi Th dừng xe rồi đi vệ sinh lề đường khu vực quận Bình Th nh, Th vẫn để chìa khóa xe trên ổ khóa công tắc xe. Sau khi đi vệ sinh xong Th đi ra thì phát hiện xe bị mất. Do xay xỉn nên Th không nhớ cụ thể địa điểm mất xe.

Đối với xe gắn máy biển số 54R1-7511, Th khai nhận vào ngày 10/10/2018 Th đi chơi điện tử bắn cá gần bùng binh Cây Gõ, Quận M2 (không rõ địa chỉ) thì gặp một Th niên tên Tùng (không rõ lai lịch) Tùng nói và Th đồng ý nhận cầm xe gắn máy biển số 54R1-7511 với giá 500.000 đồng. Sau đó không thấy Tùng đến lấy l i xe nên Th sử dụng xe làm phương tiện ch y xe ôm. Qua điều tra xác minh được biết xe gắn máy biển số 54R1-7511 do ông Võ Minh D (Hộ khẩu thường trú: Số 5/50 Đường TQĐ, Phường N, quận PN) đứng tên chủ s hữu nhưng ông D đã bán nhà đi khỏi địa phương. Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Ban biên tập Báo Th niên và Báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh đăng tin tìm chủ s hữu chiếc xe gắn máy nêu trên, nhưng đến nay chưa có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn K yêu cầu Ph m Văn Th bồi thường trị giá chiếc xe bị chiếm đo t với số tiền 14.770.000 đồng.

Bản cáo tr ng số 44/CT – VKS ngày 29/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Ph m Văn Th về tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản” theo quy định t i điểm d Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

T i phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm d Khoản 2 Điều 174 điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và xử ph t bị cáo Ph m Văn Th mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù. Đồng thời buộc bị cáo bồi thường cho bị h i tài sản bị chiếm đo t không thu hồi được theo yêu cầu của bị h i. Về xử lý vật chứng: Do chiếc xe gắn máy biển số 54R1-7511 không phải do Th làm chủ s hữu nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh; của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa bị cáo Ph m Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội: Do muốn có tiền tiêu xài, nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đo t tài sản của người khác và bị cáo đã bằng thủ đo n gian dối làm cho bị h i là ông Nguyễn Văn K tin tư ng là thật nên đã giao cho bị cáo tài sản là một chiếc xe gắn máy hiệu Honda Air Blade biển số 95E1-438.88; vào khoảng hơn 15 giờ ngày 15/7/2018, t i trước số 130 Đường QTL, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó bị cáo đã tẩu thoát rời khỏi hiện trường cùng chiếc xe trên.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với cáo tr ng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh.

Qua định giá, xác định chiếc xe gắn máy hiệu Honda Air Blade biển số 95E1-438.88 trị giá là 14.770.000 đồng (thuộc trường hợp tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng).

Do đó đã có đủ cơ s để kết luận: Bị cáo Ph m Văn Th đã ph m vào tội “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”; tội ph m và hình ph t được quy định t i Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung hình ph t: Bị cáo Ph m Văn Th đã tái ph m chưa được xóa án tích mà l i thực hiện hành vi ph m tội do cố ý; nên trong lần ph m tội này của bị cáo Ph m Văn Th thuộc trường hợp „„tái ph m nguy hiểm‟‟ theo quy định t i điểm b Khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó bị cáo Ph m Văn Th phải bị xét xử theo quy định t i điểm d Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về nhân thân: Bị cáo có quá trình nhân thấn xấu nên Hội đồng xét xử cũng cần phải lưu ý khi quyết định hình ph t đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T i Cơ quan điều tra cũng như t i phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về lỗi lầm đã gây ra. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình ph t mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Bản cáo tr ng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Th là có cơ s pháp luật đúng người đúng tội mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất mức độ ph m tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình ph t bổ sung: Theo quy định t i Khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị ph t một số tiền nhất định từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước cấm đảm nhiệm chức vụ cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và khó thi hành, nên Hội đồng xét xử không ph t bổ sung (ph t tiền) đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Mặc dù vắng mặt t i phiên tòa nhưng bị h i K có yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá chiếc xe bị chiếm đo t (không thu hồi được) với số tiền là 14.770.000 đồng. T i phiên tòa bị cáo đồng ý chịu trách nhiệm bồi thường thiệt h i về tài sản đã chiếm đo t của bị h i (không thu hồi được) theo yêu cầu của bị h i. Vì vậy bị cáo phải có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường một lần số tiền như trên cho bị h i ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật t i Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về vật chứng:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không thu hồi được chiếc xe gắn máy hiệu Honda Air Blade biển số 95E1-438.88; nên không có cơ s xem xét để xử lý.

- Đối với chiếc xe gắn máy hiệu WEDDING kiểu Wave Trung Quốc màu xanh biển số 54R1-7511 số máy: VTT44JL1P52FMH001487 số khung: RRKWCH2UM7XL 01487; hiện chưa xác định được chủ s hữu hợp pháp nên cần tiếp tục t m giữ và đăng thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đ i chúng trong thời h n một năm để truy tìm và trả l i cho chủ s hữu hợp pháp nếu quá thời h n mà không có người thừa nhận hợp pháp thì trả l i cho bị cáo Ph m Văn Th.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d Khoản 2 Điều 174 điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử ph t: Bị cáo Ph m Văn Th (tên gọi khác: Thọ) 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù, về toäi “Lừa đảo chiếm đo t tài sản”. Thời h n tù tính kể từ ngày 09/11/2018.

Về hình ph t bổ sung: Không ph t bổ sung đối với bị cáo Ph m Văn Th (tên gọi khác: Thọ).

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các Điều: 584, 585, 586, 589, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Boä luaät daân söï năm 2015 cùng Luật Thi hành án Dân sự;

Buộc bị cáo Ph m Văn Th (tên gọi khác: Thọ) chịu trách nhiệm bồi thường thiệt h i về tài sản không thu hồi được cho bị h i là ông Nguyễn Văn K với số tiền là 14.770.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).

Thi hành việc bồi thường một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật t i Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tiếp tục t m giữ và đăng thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đ i chúng trong thời h n một năm để truy tìm và trả l i cho chủ s hữu hợp pháp đối với chiếc xe gắn máy hiệu WEDDING kiểu Wave Trung Quốc màu xanh biển số 54R1-7511 số máy: VTT44JL1P52FMH001487 số khung: RRKWCH2UM7XL01487; nếu quá thời h n mà không có người thừa nhận hợp pháp thì trả l i cho bị cáo Ph m Văn Th (tên gọi khác: Thọ).

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 40/PNK, ngày 02/01/2019 của Công an Quận T Thành phố Hồ Chí Minh).

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vaø Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Ph m Văn Th (tên gọi khác: Thọ) phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đđồng (Hai trăm nghìn đồng) và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 738.500 đồng (Bảy trăm ba mươi tám nghìn năm trăm đồng).

Thi hành t i Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải bồi thường cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357 Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc Ñieàu: 6, 7 vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị h i vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đ t hoặc niêm yết hợp lệ. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình; trong thời h n 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đ t hoặc niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ