- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2019/HS-ST Ngày: 02/7/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ C
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/. Ông Phan Ngọc Đáng;
2/. Bà Huỳnh Thị Lài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình T, thành phố C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố C tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương – Kiểm sát viên.
Trong ngày 02/7/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận B đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Anh T, tại C.
Nơi cư trú: đường B, phường B, quận B, thành phố C.
Chỗ ở: như trên.
Nghề nghiệp: Thợ sơn tàu; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Lê Khắc C (S) và bà Nguyễn Thanh T (S); Anh chị em có 02 người.
Vợ: Võ Thị M; Con có 02 người (lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2017).
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/03/2019, tại Nhà tạm giữ Công an quận B, thành phố C. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Lê Phương A. Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận B, thành phố C (vắng mặt)
-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị M. Địa chỉ: đường B, phường B, quận B, thành phố C. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 11/3/2019, Lê Anh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Nouvo, lưu thông từ phường T, quận B, thành phố C đi huyện P, thành phố C. Khi điều khiển xe trên đường P thuộc khu vực T, phường T, quận B thì phát hiện phía trước có một xe mô tô nhãn hiệu Wave RX, do Nguyễn Lê Trâm A điều khiển, phía sau chở Nguyễn Lê Phương A. T nhìn thấy Phương A đang cầm điện thoại di động hiệu Samsung J7 trên tay phải, sau khi quan sát đoạn đường vắng nhà dân, không có người đi lại nên T điều khiển xe chạy lên, áp sát xe của Trâm A, dùng tay trái giật điện thoại trên tay của Phương A rồi tăng ga, bỏ chạy theo hướng Quốc lộ đi về huyện P, thành phố C.
Sau khi cướp giật được điện thoại, T mang điện thoại đến Trung tâm bảo hành Samsung tại đường H, phường T, quận N, thành phố C để cài đặt lại chương trình rồi mang về nhà cất giấu với mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì bị lực lượng công an mời làm việc và T đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá số 22/BKL-HĐĐG ngày 14/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Uỷ ban nhân dân quận B, thành phố C kết luận: Giá trị của chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J7 Pro mà bị cáo cướp giật là 3.000.000 đồng.
Tang vật tạm giữ gồm:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 màu xám - xanh, có ốp lưng bằng nhựa màu xanh đen, mặt sau có lắp giá đỡ bằng nhựa màu trắng xanh, số Imei 356446082106233, 356447082106231.
- 01 xe máy hiệu Nouvo, màu đỏ trắng, số máy E3R7EO12747, số khung RLCS9210EY012735 do Võ Thị M đứng tên.
- 01 áo thun nam, màu xanh đen, có phần vai và tay áo màu đỏ, không rõ nhãn hiệu.
- 01 quần Jean nam, màu xám đen, quần dài, không rõ nhãn hiệu.
- 01 khẩu trang y tế màu xanh nhạt.
- 01 nón bảo hiểm màu xanh nhạt, dạng nón nữa đầu, không kính, hai bên hông có in chữ H.
Ngày 15/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố C đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 25, trả lại cho bị hại Nguyễn Lê Phương A: 01 điện thoại Samsung J7 Pro màu xám – xanh, ốp lưng bằng nhựa màu xanh đen, số Imei 356446082106233, 356447082106231.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSBT ngày 22/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố C đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
Bị cáo Lê Anh T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát trình bày: Vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về tội danh và điều khoản áp dụng. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo và tài sản cướp giật đã được thu hồi và giao trả cho người bị hại. Mặt khác, bị cáo mới phạm tội lần đầu nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 38, điểm s khoản 1 điều 51, điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự tuyên bị cáo mức án từ 03 cho đến 04 năm tù. Giao trả xe mô tô cho chị Võ Thị M.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy, mọi tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo có hành vi cướp giật tài sản của chị Phương A là đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu của công dân.
Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Khi nhìn thấy Phương A đang cầm điện thoại di động hiệu Samsung J7 trên tay phải, sau khi quan sát đoạn đường vắng nhà dân, không có người đi lại nên T điều khiển xe chạy lên, áp sát xe của Trâm A, dùng tay trái giật điện thoại trên tay của Phương A rồi tăng ga, bỏ chạy theo hướng Quốc lộ đi về huyện P, hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm, ngang nhiên coi thường pháp luật, gây hoang mang, mất trật tự xã hội. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự quy định.
Để có tác dụng giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa C cho xã hội nghĩ nên cần có mức án thật nghiêm khắc đối với các bị cáo.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tài sản cướp giật đã được thu hồi và giao trả cho người bị hại. Mặt khác, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, mới phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố C đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 25, trả lại cho bị hại Nguyễn Lê Phương A: 01 điện thoại Samsung J7 Pro màu xám – xanh, ốp lưng bằng nhựa màu xanh đen, số Imei 356446082106233, 356447082106231. Người bị hại không có yêu cầu gì và vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Về xử lý vật chứng: 01(một) xe máy hiệu Nouvo, màu đỏ trắng, số máy E3R7EO12747, số khung RLCS9210EY012735 do Võ Thị M đứng tên. Chị M là vợ của bị cáo Lê Anh T, do các bên đều xác nhận đây là xe thuộc sở hữu cá nhân chị M, khi bị cáo điều khiển xe đi cướp giật chị M không biết nên cần giao trả xe cho chủ sở hữu hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015
- Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Lê Anh T phạm tội “Cướp giật tài sản”
Xử phạt: Lê Anh T 03(ba) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 11/3/2019.
Về xử lý vật chứng: Giao trả cho chị Võ Thị M 01(một) xe máy hiệu Nouvo, màu đỏ trắng, số máy E3R7EO12747, số khung RLCS9210EY012735 do Võ Thị M đứng tên đăng ký chủ sở hữu.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 áo thun nam, màu xanh đen, có phần vai và tay áo màu đỏ, không rõ nhãn hiệu.
- 01 quần Jean nam, màu xám đen, quần dài, không rõ nhãn hiệu.
- 01 khẩu trang y tế màu xanh nhạt.
- 01 nón bảo hiểm màu xanh nhạt, dạng nón nữa đầu, không kính, hai bên hông có in chữ H.
Về án phí: Lê Anh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, người liên quan có mặt, tính từ ngày người bị hại vắng mặt nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ở địa phương, được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo, các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Quận B, TPC; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận B, TPC; - Công an quận B, TPC; - Nhà tạm giữ Công an Quận B, TPC; - Tòa án nhân dân Thành phố C; - Sở Tư pháp Thành phố C; - Lưu (hs, Vp, Ltds). | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ánh |