vanban.org

Bản án 54/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 15/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Buộc Nguyễn Quốc T phải nộp lại 40.000đ tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2019/HS-ST
Ngày: 15-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Minh Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ka Đim

2. Ông Mai Linh Sơn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Ngân; Thư ký Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc T; Tên gọi khác: “Nh”; Giới tính: nam; Sinh ngày: 26/10/1994 tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Thôn L 1, X, Đ, Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: phật giáo; Nghề nghiệp: Thợ nhôm kính; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Nguyễn Văn M (chết) và bà Võ Thị Ng. Hiện trú ở: Thôn L 1, X, Đ, tỉnh Lâm Đồng; Anh em ruột có 02 người lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1994. Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình;

Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 178/HSST ngày 21/12/2016, Nguyễn Quốc T bị Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 02/4/2017 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù riêng phần án phí hình sự sơ thẩm trong bản án bị cáo chưa chấp hành. Vì vậy, đến nay bị cáo chưa được xóa án tích

Nhân thân: Ngày 22/01/2013, Nguyễn Quốc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an huyện Đơn Dương xử phạt với số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) đến ngày 04/02/2013 đã đóng phạt xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/07/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đơn Dương. Có mặt. -Người bị hại: Anh Nguyễn Huy Tr, sinh năm: 1980; Địa chỉ: thôn L, xã L , huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Công V, sinh năm: 1997; Địa chỉ: thôn S, xã N’Hạ, huyện Tr, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xử vắng mặt.

2. Anh Võ Văn Tr, sinh năm: 1981; Địa chỉ: thôn L2, xã X, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12h00 ngày 12/07/2019, Nguyễn Quốc T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Wave, màu xanh đen, biển kiểm soát 49T5- 5774 của chủ sở hữu là ông Võ Văn Tr, hiện ở thôn L2, xã X, huyện Đ chở phía sau người thanh niên tên “Nhỏ” (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đi từ xã X đến thị trấn M. Khi đến đoạn đường thuộc Quốc lộ 27, thuộc tổ dân phố Nghĩa Đức, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương. Lúc này, người thanh niên tên “Nhỏ” phát hiện phía bên phải mặt đường có công trình xây dựng nhà ở do ông Nguyễn Huy Tr làm chủ thầu xây dựng và có một số tài sản phục vụ cho xây dựng. “Nhỏ” nói với Nguyễn Quốc T quay đầu xe lại cả hai bàn nhau trộm cắp tài sản trên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Nguyễn Quốc T ngồi trên xe, đứng ngoài cảnh giới còn “Nhỏ” lén lút đi vào lấy trộm 01 máy hàn điện tử hiệu EURO ARC-250 màu xanh ra để phía sau xe. Thấy vậy, Nguyễn Quốc T đi vào lấy 01 máy hàn điện tử hiệu TAYDY ARC-250 PRO màu đỏ để lên baga xe. “Nhỏ” đứng giữ tài sản trên xe, Nguyễn Quốc T tiếp tục đi vào lấy 01 máy cắt bàn hiệu Maktec màu đỏ bỏ lên xe. Sau khi lấy trộm xong, Nguyễn Quốc T điều khiển xe môtô trên chở “Nhỏ” và số tài sản trộm cắp được đi Đức Trọng đến tiệm sửa máy cắt hàn của ông Lê Công V, sinh năm 1997, hiện ở thôn Sêrêđăng, xã N’Thôn Hạ, huyện Đức Trọng bán được 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Sau khi bán tài sản trên, “Nhỏ” nói chỉ bán được 1.500.000 đồng và đưa T 200.000đồng, còn lại “Nhỏ” giữ lại 1.300.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Đến chiều cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đơn Dương mời T lên làm việc và T khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Còn “Nhỏ” hiện nay bỏ trốn khỏi địa phương. (BL 77-80; 89-90; 94-95)

Tại bản kết luận định giá tài sản số 37/2019/KL/HĐĐGTS ngày 15/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đơn Dương kết luận tài sản trên tại thời điểm bị chiếm đoạt gồm 01 máy hàn điện tử hiệu EURO ARC-250 màu xanh trị giá 2.212.500đ (hai triệu hai trăm mười hai ngàn năm trăm đồng); 01 máy hàn điện tử hiệu TAYDY ARC-250 PRO màu đỏ trị giá 4.275.000đ (bốn triệu hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng); 01 máy cắt bàn hiệu Maktec màu đỏ trị giá 1.404.000đ (Một triệu bốn trăm lẻ bốn ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Quốc T trộm cắp là 7.891.500 đồng (Bảy triệu tám trăm chín mươi mốt ngàn năm trăm đồng).(BL 41-43)

Cáo trạng số 52/CT-VKS-ĐD ngày 25/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi ngàn đồng) thu của bị cáo Nguyễn Quốc T là tiền thu được từ việc bán tài sản trộm cắp mà có nên đề nghị tịch thu và sung vào ngân sách Nhà nước, còn lại số tiền 40.000 đồng (bốn mươi ngàn đồng) thu lợi bất chính buộc T nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận đã cùng với một người tên Nhỏ đến khu vực tổ dân phố Nghĩa Đức, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương lén lút lấy trộm 01 máy hàn điện tử hiệu EURO ARC-250 màu xanh, 01 máy hàn điện tử hiệu TAYDY màu đỏ, 01 máy cắt bàn hiệu Maktec màu đỏ như cáo trạng nêu. Mục đích trộm để bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đơn Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Vào khoảng 12 giờ 00 ngày 12/7/2019, Nguyễn Quốc T điều khiển xe môtô chở phía sau người thanh niên tên “Nhỏ” (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đến khu vực tổ dân phố Nghĩa Đức, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương lén lút lấy trộm 01 máy hàn điện tử hiệu EURO ARC-250 màu xanh, 01 máy hàn điện tử hiệu TAYDY màu đỏ, 01 máy cắt bàn hiệu Maktec màu đỏ của ông Nguyễn Huy Tr. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Quốc T trộm cắp là 7.891.500 đồng (Bảy triệu tám trăm chín mươi mốt ngàn năm trăm đồng).

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Kết luận định giá tài sản, phù hợp lời khai của bị hại, nhân chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Quốc T phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội là tái phạm nên áp dụng điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên đã xâm phạm tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã từng bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả lại 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Wave màu xanh đen, biển kiểm soát 49T5 -5774 cho ông Võ Văn Tr là chủ sở hữu hợp pháp. Xét thấy, ông Võ Văn Tr không biết việc Nguyễn Quốc T sử dụng phương tiện xe môtô trên đi trộm cắp tài sản nên việc trả lại xe cho ông Tr là đúng.

Đối với 01 mũ bảo hiểm màu trắng có đường sọc xanh – đỏ, dạng mũ trùm ½ đầu; 01 áo thun ngắn tay màu xám có hình 02 con rắn trên áo ở mặt trước áo; 01 quần Kaki lửng ngang đầu gối, màu đen của Nguyễn Quốc T. Xét thấy, không liên quan tài sản trộm cắp nên Cơ quan điều tra đã trả cho Nguyễn Quốc T.

Đối với 01 máy hàn điện tử hiệu EURO ARC-250 màu xanh; 01 máy hàn điện tử hiệu TAYDY ARC-250 PRO màu đỏ; 01 máy cắt bàn hiệu Maktec cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Huy Tr, ông Tr không có yêu cầu gì khác nên không xem xét đến.

Trong quá trình điều tra, anh Lê Công V không yêu cầu Nguyễn Quốc T bồi thường số tiền 2.000.000 đồng do anh V đưa cho T và “Nhỏ” nên không xem xét.

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi ngàn đồng) của Nguyễn Quốc T là tiền thu được từ việc bán tài sản trộm cắp mà có nên tịch thu và sung vào ngân sách Nhà nước, còn lại số tiền 40.000 đồng (bốn mươi ngàn đồng) thu lợi bất chính cần buộc T nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với ông Lê Công V là người mua tài sản trên nhưng không biết tài sản do Nguyễn Quốc T và người thanh niên tên “Nhỏ” trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý về tội tiêu thụ tài sản do người khác trộm cắp mà có là có căn cứ.

Riêng người thanh niên tên “Nhỏ” hiện nay đã bỏ trốn. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành điều tra, xác minh và xử lý sau.

Anh Nguyễn Huy Tr khai mất 01 máy mài tay nhưng không xác định được do T và “Nhỏ” lấy trộm, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành xác minh, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/07/2019. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Buộc Nguyễn Quốc T phải nộp lại 40.000đ tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 160.000đ do Nguyễn Quốc T nộp (Theo biên lai thu tiền số 01941 ngày 25/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương).

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ