- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2019/HS-ST Ngày: 12/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Ngọc;
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
2. Ông Huỳnh Văn Bé.
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2019 Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoài L, sinh năm 1998; giới tính: nam; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp 5, xã S, Huyện T, tỉnh Tây Ninh; tạm trú: ấp T, xã T, Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: công nhân; cha: Nguyễn Văn T, mẹ: Bùi Thị Y; anh chị em ruột gồm có 02 người kể cả bị cáo; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 21/11/2018 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
1. Anh Lê Nhựt T, sinh năm 2000 (vắng mặt).
HKTT: Ấp M, xã H, Huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Tạm trú: Số 1, hẻm 44, đường 28, ấp H, xã T, Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Anh Nguyễn H, sinh năm 1997 (vắng mặt).
HKTT: Ấp 4, xã T, Huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Tạm trú: Số 1, hẻm 44, đường 28, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Anh Huỳnh Văn Q, sinh năm 2000 (vắng mặt).
HKTT: Tổ 4, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Tạm trú: Số 1, hẻm 44, đường 28, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Trương Tộng Đ, sinh năm 2002 (vắng mặt).
HKTT: Ấp 4, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Tạm trú: Số 1, hẻm 44, đường 28, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Ái L (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 1, hẻm 44, đường 28, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi, N vụ liên quan: Danh Trọng N, sinh ngày 24/6/2003 (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Hồng B, sinh năm 1985 (vắng mặt); ông Danh T, sinh năm 1976 (vắng mặt).
HKTT: Ấp 9, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Cùng tạm trú: Lộ 7, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Nguyễn Hoài L bị Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 01 giờ 50 phút ngày 10/10/2018, trong lúc công nhân Công ty TNHH L Tâm đang ngủ, Nguyễn Hoài L và Danh Trọng N (sinh ngày 24/06/2003) đột nhập vào phòng tập thể của Công ty thuộc ấp Hậu, xã Tân Thông Hội, Huyện Củ Chi để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. L cảnh giới phía ngoài, còn N đi vào phòng trộm được 04 điện thoại di động của công nhân là Nguyễn H, Lê Nhựt T, Huỳnh Văn Q, Trương Tộng Đ, bao gồm 01 điện thoại hiệu Xiaomi Note 5, 01 điện thoại Iphone 6plus, 01 điện thoại Samsung J7 Prime, 01 điện thoại Samsung J7 Pro rồi tẩu thoát. Toàn bộ sự việc được camera an ninh của công ty ghi nhận lại.
Sau khi thực hiện hành vi, N về nhà, L đến phòng trọ của người quen ngủ. Đến sáng cùng ngày, L nhờ Nguyễn Thanh H đến phòng trọ để chở L đi bán 04 chiếc điện thoại. H chở L đến cửa hàng điện thoại di động của Trần Huỳnh Nhân thuộc ấp Thạnh An, xã Trung An, Huyện Củ Chi nhưng để L ở bên ngoài còn H đến gặp Nhân. H nhờ Nhân mở khoá 03 điện thoại 01 điện thoại Iphone 6plus, 01 điện thoại Samsung J7 Prime, 01 điện thoại Samsung J7 Pro, 01 điện thoại còn lại không cài mã khoá sau đó đề nghị bán lại cho Nhân 02 điện thoại gồm 01 điện thoại Iphone 6plus giá 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại Samsung J7 Prime giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng), đồng thời trả tiền công mở khoá cho Nhân 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). H đưa lại cho L 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền bán 02 điện thoại, 02 điện thoại còn lại do L quản lý. Sau khi tiêu xài hết tiền, L bán chiếc điện thoại Samsung J7 Pro cho cửa hàng điện thoại di động ở ấp Tân Tiến, xã Tân Thông Hội, Huyện Củ Chi với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), còn chiếc điện thoại Xiaomi Note 5, L bán cho một người không rõ lai lịch với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Ngày 21/11/2018, Nguyễn Hoài L đến Công an xã Tân Thông Hội, Huyện Củ Chi đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự số 247 ngày 12 tháng 10 năm 2018:
- 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Note 5 trị giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).
- 01 điện thoại Iphone 6plus trị giá 5.000.000đ (năm triệu đồng).
- 01 điện thoại Samsung J7 Prime trị giá 2.000.000đ (hai triệu đồng).
- 01 điện thoại Samsung J7 Pro trị giá 2.000.000đ (hai triệu đồng).
Tổng giá trị tài sản thiệt hại: 10.500.000đ (mười triệu năm trăm nghìn đồng).
V t ch ng thu gi :
- 01 điện thoại Iphone 6plus (đã trả lại cho bị hại, BL 123).
- 01 điện thoại Samsung J7 Prime (đã trả lại cho bị hại, BL 122).
- 01 điện thoại Samsung J7 Pro (không thu hồi được).
- 01 ĐTDĐ hiệu Xiaomi Note 5 (không thu hồi được).
Phần dân sự: Huỳnh Văn Q yêu cầu bồi thường 5.300.000đ (năm triệu ba trăm nghìn đồng) trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Xioami Note 5 và Trương TộngĐ yêu cầu bồi thường 6.990.000đ (sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro.
Tại bản cáo trạng số: 42/CT-VKS ngày 13/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoài L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi vẫn gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Hoài L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ lu t hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
- Về vật chứng:
01 điện thoại Iphone 6plus, 01 điện thoại Samsung J7 Prime, đã trả lại cho bị hại nên không xét.
01 điện thoại Samsung J7 Pro, 01 ĐTDĐ hiệu Xiaomi Note 5, không thu hồi được nên không xét.
- Về dân sự: Huỳnh Văn Q yêu cầu bồi thường 5.300.000đ (năm triệu ba trăm nghìn đồng) trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Xioami Note 5 và Trương TộngĐ yêu cầu bồi thường 6.990.000đ (sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro, tại phiên tòa, bị cáo L tự nguyện và đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại Huỳnh Văn Q và Trương TộngĐ nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quuyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án, qua đó có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 10/10/2018, tại Công ty TNHH L Tâm thuộc ấp Hậu, xã Tân An Hội, Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Hoài L và Danh Trọng N đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Note 5, 01 điện thoại di động Iphone 6 plus, 01 điện thoại di động Samsung J7 Prime, 01 điện thoại di động Samsung J7 Pro, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 10.500.000đ (mười triệu năm trăm nghìn đồng).
Bằng hành vi trên, bị cáo L đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi đã truy tố.
Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, làm mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian mới phát H được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo ra đầu thú nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Đối với Danh Trọng N có dấu hiệu phạm tội: “Trộm cắp tài sản” nhưng tại thời điểm phạm tội, N chưa đủ 16 tuổi nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Củ Chi không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với Nguyễn Thanh H và Trần Huỳnh Nhân, chưa đủ cơ sở xác định có dấu hiệu phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Củ Chi không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H và Nhân, Hội đồng xét xử không xét.
- Về trách nhiệm dân sự:
01 điện thoại Iphone 6plus, 01 điện thoại Samsung J7 Prime, đã trả lại cho bị hại là Lê Nhựt T và Nguyễn H, T và H cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
Người bị hại anh Huỳnh Văn Q yêu cầu bồi thường giá trị 01 điện thoại di động hiệu Xioami Note 5 là 5.300.000đ (năm triệu ba trăm nghìn đồng), Trương TộngĐ yêu cầu bồi thường giá trị 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro là 6.990.000đ (sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Lẽ ra bị cáo cùng Danh Trọng N có trách nhiệm L đới bồi thường thiệt hại cho anh Q và Trương TộngĐ nhưng tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh Q và Trương TộngĐ nên Hội đồng xét xử ghi nhận và bị cáo được quyền khởi kiện Danh Trọng N bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về xử lý v t ch ng:
01 điện thoại di động Iphone 6 plus, 01 điện thoại di động Samsung J7 Prime, đã trả cho chủ sở hữu, thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét.
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi giữ quyền công tố tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét cần buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2018.
- Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Nguyễn Hoài L bồi thường cho anh Huỳnh Văn Q số tiền là 5.300.000đ (năm triệu ba trăm nghìn đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật (theo sự tự nguyện của bị cáo tại phiên tòa).
Buộc bị cáo Nguyễn Hoài L bồi thường cho Trương TộngĐ số tiền là 6.990.000đ (sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật (theo sự tự nguyện của bị cáo tại phiên tòa).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Hoài L phải nộp là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Hoài L phải nộp là 614.500đ (sáu trăm mười bốn nghìn năm trăm đồng).
2. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, N vụ L quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, N vụ L quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Lu t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.
| Nôi nhaän: - TAND TP.HCM; - VKSND H.Củ Chi; - Chi cục THADS H. Củ Chi; - THA HS; - Phoøng PC53 Coâng an TP.HCM; - Sôû tö phaùp; - UBND nôi bò caùo cö truù; - Bò caùo; - Người TGTT; - Löu, hình söï, hoà sô. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa Vũ Thị Thanh Hương |