- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2019/HS-ST Ngày 22-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Thôn
Bà Trần Thị Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bạch - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1381/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị D, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1973 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 1 đường Nguyễn C, tổ dân phố T, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế H (đã chết) và bà Bùi Thị B; bị cáo có chồng là Nguyễn Văn Th (đã chết); có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 9 năm 2019 đến ngày 13 tháng 9 năm 2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người chứng kiến: Ông Đinh Văn Ch; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại đoạn đường thôn Trần Phú, xã An Thắng, huyện An Lão, tổ công tác của Công an xã An Thắng trong khi tuần tra phát hiện thấy Nguyễn Thị D đang điều khiển xe mô tô BKS: 15B1-165.10 có biểu hiện nghi vấn. Công an xã An Thắng yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính, Nguyễn Thị D đã tự móc trong túi áo khoác chống nắng bên trái giao nộp cho cơ quan Công an 01 đoạn ống nhựa kích thước (2x0,5) cm được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, D khai đó là ma túy.
Tại Kết luận giám định số 461 ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tinh thể màu trắng của mẫu vật gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1815 gam, là loại: Methamphetamine”.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị D khai nhận: Vào khoảng tháng 6 năm 2019, trong khi dọn tủ quần áo của gia đình, Dung phát hiện trong quần áo cũ của chồng là Nguyễn Văn T (đã chết năm 2017) có 01 đoạn ống nhựa kích thước (2x0,5) cm được hàn kín hai đầu bên trong có tinh thể màu trắng. Dung biết đó là ma tuý vì bản thân chồng D là người nghiện và thường xuyên sử dụng ma túy tại nhà. Dung tiếp tục để đoạn ống nhựa đó trong tủ quần áo. Sáng ngày 04 tháng 9 năm 2019 do buồn chán việc gia đình, D lấy gói ma tuý trong tủ quần áo cho vào túi áo khoác chống nắng bên trái rồi đi xe mô tô đến thôn Trần Phú, xã An Thắng để tìm nơi sử dụng. Khoảng 9 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường thôn Trần Phú, xã An Thắng, D đã bị Công an xã An Thắng phát hiện, kiểm tra và thu giữ vật chứng nêu trên.
Khám xét nơi ở của Nguyễn Thị D, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được đồ vật gì liên quan đến vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 05 tháng 11 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Thị D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị Công an xã An Thắng, huyện An Lão bắt quả tang.
Trong lời luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị D từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trong có chất ma túy.
Bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận giám định, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Hồi 09 giờ 45 phút ngày 04 tháng 9 năm 2019, Nguyễn Thị D có hành vi cất giấu trong người 0,1815 gam Methamphetamine thì bị Công an xã An Thắng phát hiện thu giữ tại thôn Trần Phú, xã An Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Bị cáo khai mục đích cất giấu số ma túy trên để sử dụng cho bản thân. Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,1815 gam Methamphetamine nên bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người, mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có mẹ chồng có công với cách mạng và 02 bác ruột là liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên có thể xử bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì đã niêm phong sau khi giám định số 461/2019/PC09 của Phòng PC09- Công an thành phố Hải Phòng, bên trong có chất ma túy. Xét đây là vật cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị D 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù (trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ, từ ngày 05 đến ngày 13 tháng 9 năm 2019).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong sau giám định số 461/2019/PC09 của Phòng PC09- Công an thành phố Hải Phòng, bên trong có chất ma túy.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 11 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ 1 – TANDTC; - Tòa án nhân dân TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - PV27 Công an TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TPHP; - Công an huyện An Lão; Cơ quan THA hình sự CA huyện An Lão; - Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Bị cáo; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA V Thị Thanh Vân |