vanban.org

Bản án 54/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 20/09/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Thúy O. Giữ nguyên phần quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện MX, tỉnh Sóc Trăng.

Áp dụng vào điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Thị Thúy O 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo hoặc ngày bị cáo tự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thúy O - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Thúy O. Giữ nguyên phần quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện MX, tỉnh Sóc Trăng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2019/HS-PT.
Ngày 20-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Thái Rết.

Các Thẩm phán:

Bà Tôn Thị Thanh Thúy.

Bà Tăng Thị Thúy Nga.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đào Tiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 51/2019/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Trần Thị Thúy O do có kháng của bị cáo O đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện MX, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Thị Thúy O; Sinh năm 1986; Nơi sinh; huyện MX, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện MX, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo (Thiên chúa); Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H (S) và bà Nguyễn Thị L (S); Anh chị em ruột có 05 người lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm 1989; Chồng: Nguyễn Thanh P; Sinh năm 1983 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt).

- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại bà Lê Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D, người làm chứng bà NLC1, ông NLC2, ông NLC3, bà NLC4.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Thị Thúy O có mâu thuẫn với bị hại Lê Thị H về việc bà H nghi ngờ bị cáo O có quan hệ tình cảm bất chính với anh NLC2 là chồng của bà H.

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/3/2018, Trần Thị Thúy O kêu con ruột là Nguyễn Văn D, sinh ngày 29/10/2002 chở đi qua chòi tôm bà Lê Thị H tại ấp H, xã N, huyện MX để nói chuyện. Trên đường đi, Oanh kêu D ghé lại quán nhậu tên 9999 của bà NLC1, ngụ ấp Hòa Lý, xã Ngọc Tố, huyện MX, lấy 01 cây dao - loại dao chặt nước đá, bằng kim loại, mũi dao bằng, lưỡi có nhiều đầu nhọn cách đều nhau, dài khoảng 25 cm, màu xám đã rỉ sét giấu vào trong áo khoác. Khi đi được một đoạn, D phát hiện bị cáo O có đem dao theo nên hỏi bị cáo O đem dao theo làm gì, thì bị cáo O trả lời đem dao theo để hù dọa bà H. Lúc này, D mới dừng xe lại và lấy điện thoại gọi cho bà NLC1 biết việc bị cáo O đem dao qua chòi tôm của bà H, rồi tiếp tục chở bị cáo O qua chòi tôm bà H.

Đến nơi thấy bà H đang ngồi trên giường trong chòi tôm, bị cáo O vào nói chuyện với bà H dẫn đến hai người cự cãi nhau, bị cáo O lấy cây dao mang theo, cầm trên tay phải chém từ trên xuống trúng vào cơ thể của bà H 05 cái, trong đó: 01 cái trúng tại kẽ ngón I-II bàn tay phải, 01 cái trúng xuôi theo cánh tay trái, 01 cái trúng mặt trước đầu trên cánh tay trái, 01 cái trúng ngang 1/3 giữa mặt sau cẳng tay trái và 01 cái trúng vào mặt trong cổ tay trái. Lúc này, D cũng rút dây nịt đang đeo trên người bằng da, màu đen, dài khoảng 70 cm, có đầu bằng kim loại màu trắng đánh 03 - 04 cái vào cơ thể của bà H, thì được bà NLC1, ông NLC3 và ông NLC2 đến can ngăn, đưa bà H đi bệnh viện Đa khoa tỉnh Sóc Trăng điều trị từ ngày 14/3/2018 đến ngày 26/3/2018 thì xuất viện.

Ngày 25/5/2018 bị hại Lê Thị H có đơn yêu cầu xử lý hình sự về hành vi gây thương tích của Trần Thị Thúy O.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 112/TgT-PY ngày 08/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng kết luận: tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Lê Thị H là 07%; tổn thương do vật có nhiều đầu nhọn cách đều nhau gây nên; tổn thương vùng đầu – mặt – cổ là vùng nguy hiểm đến tính mạng; tổn thương nề, sây sát đã được điều trị, không còn di chứng tổn thương thì không gây nguy hiểm đến tính mạng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện MX, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khỏan 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thúy O phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Tuyên xử: Xử phạt bị cáo Trần Thị Thúy O 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo luật định.

Đến ngày 26/7/2019 bị cáo Trần Thị Thúy O kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo với các lý do: gia đình bị cáo có công với cách mạng, bà Nội là liệt sĩ; trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã nộp 1.000.000 đồng khắc phục hậu quả; bị cáo hiện nay đã ly hôn chồng và đang nuôi 03 đứa con còn nhỏ; phía bị hại có lỗi trước, con của bị hại lên mạng facebook xúc phạm bị cáo trước nên bị cáo không kiềm chế được mới đánh bị hại cho hả giận; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng cấp sơ thẩm xử phạt 06 tháng tù là khá nặng cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Trần Thị Thúy O vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Thúy O, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về chủ thể, thời hạn, hình thức và nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thúy O là đúng quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo là hợp lệ và được xem xét.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Thúy O như sau: Bị cáo O đã khai nhận: Do trước đó bị cáo O và bị hại H có mâu thuẩn về việc bị hại H nghi ngờ bị cáo O có quan hệ tình cảm bất chính với chồng bị hại H nên hai người thường xuyên cự cãi nhau, nên vào khoảng 11 giờ ngày 14/3/2018 bị cáo Trần Thị Thúy O kêu con ruột là Nguyễn Văn D chở qua nhà bị hại H, trước khi đi bị cáo O đem theo cây dao chặt nước đá bằng kim loại. Khi đến chồi tôm của bị hại H tại ấp H, xã N, huyện MX thì bị cáo O dùng dao chặt nước đá cầm trên tay phải chém từ trên xuống trúng vào cơ thể của bị hại H 05 cái trúng váo kẽ ngón I-II bàn tay phải, trúng xuôi theo cánh tay trái, trúng mặt trước đầu trên cánh tay trái, trúng ngang 1/3 giữa mặt sau cẳng tay trái và trúng vào mặt trong cổ tay trái, tỷ lệ thương tích là 7% và ngày 25/5/2018 bị hại H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Lời thừa nhận của bị cáo O tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Thị Thúy O phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan cho bị cáo.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Thúy O thì thấy các tình tiết giảm nhẹ như về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo khắc phục một phần hậu quả, bà nội bị cáo là liệt sĩ, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo hiện đang nuôi 02 con nhỏ đã được cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng về các tình tiết bị cáo nêu như phía bị hại có lỗi trước, con của bị hại lên mạng facebook xúc phạm bị cáo trước nên chồng bị cáo nghen tuông đánh bị cáo nên bị cáo không kiềm chế được mới đánh bị hại H cho hả giận. Ngoài ra, bị cáo cho rằng con bị hại H là Thị N lên mạng facebook xúc phạm bị cáo nên phía bị hại có lỗi một phần là không được chấp nhận vì bị hại H không phải là người xúc phạm bị cáo và không có hành vi tấn công bị cáo trước. Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm cân nhắc đánh giá các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo 06 tháng tù thấp nhất của khung hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thì thấy: hành vi phạm tội của bị cáo có tính hung hăng, chỉ vì mâu thuẩn nhỏ mà tìm đến nhà bị hại dùng dao chặt nước đá là hung khí nguy hiểm chém liên tiếp vào người bị hại H là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần cách ly bị cáo một thời gian đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và cũng nhằm ren đe, trấn áp và phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội, do vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thúy O và giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm bị cáo phải chịu do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Thúy O. Giữ nguyên phần quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện MX, tỉnh Sóc Trăng.

2. Áp dụng vào điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Thị Thúy O 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo hoặc ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hình phạt tù.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử buộc bị cáo Trần Thị Thúy O chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

4. Các phần khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ