- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Y - T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Q.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2019/HNGĐ-ST Ngày: 29-10-2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Định
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Tuấn Kiệt
Bà Khưu Liên Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Tiểu My - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Q – sinh năm 1979. Địa chỉ: số S, đường T, Khóm X, Phường T, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”.
2. Bị đơn: anh B – sinh năm 1977. Địa chỉ: số A, đường B, khóm C, phường D, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Q trình bày:
Về hôn nhân: chị và anh B tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2000, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường 3, thị xã Bạc Liêu (nay là thành phố Bạc Liêu), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 21/2004, quyển số 01 ngày 24/02/2004. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, anh B thường xuyên ăn nhậu dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi, sau đó anh B tự ý bỏ về nhà mẹ ruột anh B sống khoảng 02 năm nay. Nay chị xác định vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không có biện pháp hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh B.
Về con chung: quá trình chung sống chị và anh B có 02 người con chung tên C, sinh ngày 04/6/2001 và cháu N, sinh ngày 17/01/2004, hiện nay cháu C và cháu N đang sống chung cùng chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu C hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh B trình bày:
Về hôn nhân: anh thống nhất với lời trình bày của chị Q về vấn đề hôn nhân. Quá trình chung sống, thời gian đầu anh và chị Q sống hạnh phúc Nng khoảng hơn 01 năm trước vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn về việc nuôi dạy con, tính tình của vợ chồng không hợp nhau, từ đó vợ chồng không còn sống chung với nhau và đã sống ly thân cho đến nay. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn mà yêu cầu được đoàn tụ.
Về con chung: quá trình chung sống anh và chị Q có 02 người con chung tên C, sinh ngày 04/6/2001 và cháu N, sinh ngày 17/01/2004, hiện nay cháu C và cháu N đang sống chung cùng chị Q. Trường hợp ly hôn anh đồng ý giao cháu N cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con do chị Q không yêu cầu. Đối với cháu C hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đã thực hiện đầy đủ. Vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.
Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, chị Q và anh B chung sống có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn, không sống chung trong một thời gian dài, không thể hàn gắn nên việc chị Q yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận. Về con chung: Giao cháu N, sinh ngày 17/01/2004 cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu C, sinh ngày 04/6/2001 hiện nay đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Q không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Q yêu cầu ly hôn với anh B, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh B cư trú tại số A, đường B, khóm C, phường D, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ Nng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Q.
Bị đơn anh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ Nng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh B.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Q và anh B tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2000, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường 3, thị xã Bạc Liêu (nay là thành phố Bạc Liêu), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 21/2004, quyển số 01 ngày 24/02/2004 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân được xây dựng trên mối quan hệ tình cảm vợ chồng và các thành viên trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, cùng nhau chia sẻ, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo chị Q xác định quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường hay cự cãi, vợ chồng đã sống ly thân khoảng 02 năm nay. Đối với anh B, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập anh B đến Tòa án tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng Nng anh B không có mặt, điều này chứng tỏ anh B không có nguyện vọng muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bản thân anh B cũng xác định quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn về cách dạy con và tính tình không hợp nên đã sống ly thân khoảng hơn 01 năm nay. Ngoài ra, tại biên bản xác minh ngày 08/8/2019, đại diện chính quyền địa phương nơi vợ chồng chị Q và anh B sinh sống xác nhận từ năm 2009, vợ chồng chị Q và anh B bắt đầu xảy ra mâu thuẫn về vấn đề tài chính, vợ chồng không có tiếng nói chung, sau đó chị Q đã bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay. N vậy, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Q và anh B đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Q yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q.
Về con chung: chị Q và anh B thống nhất xác định quá trình chung sống anh và chị có 02 người con chung tên C, sinh ngày 04/6/2001 và N, sinh ngày 17/01/2004, hiện nay cháu C và cháu N đang sống chung cùng chị Q. Trường hợp ly hôn chị Q và anh B thống nhất giao cháu N cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Q và anh B về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, phù hợp theo quy định pháp luật, đồng thời tại biên bản lấy lời khai của cháu N thể hiện cháu có nguyện vọng muốn sống chung với chị Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của chị Q và anh B, giao cháu N cho chị Q tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đối với cháu C đã trưởng thành và phát triển B thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Q không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: chị Q và anh B xác định anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: chị Q và anh B xác định anh chị không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Về án phí: chị Q yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Q.
1. Về hôn nhân: Cho chị Q ly hôn với anh B.
2. Về con chung: Giao cháu N, sinh ngày 17/01/2004 cho chị Q tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, (hiện cháu N đang sống chung cùng chị Q). Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Q không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
5. Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
6. Về án phí: chị Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Q đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000624 ngày 27 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nên được chuyển thu toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi Nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND TP. Bạc Liêu; - Chi cục THADS TP. Bạc Liêu; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Định |