- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: chị Nguyễn Thị H - BĐ anh Nguyễn Văn B"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2019/HNGĐ-ST Ngày 28-11-2019 “V/v: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Hạnh Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2019 về việc thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12/11/2019, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 58/2019/QĐDS-ST ngày 18/11/2019 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989;
ĐKHKTT: thôn T, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
2. Bị đơn: Anh Vũ Văn B, sinh năm 1988;
ĐKHKTT: thôn N, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Song H, sinh năm 1961 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1962; (Bà N uỷ quyền cho ông H)
Đều trú tại: thôn N, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
Chị H có mặt tại phiên tòa ngày 18/11/2019, vắng mặt tại phiên tòa ngày 28/11/2019; ông H có mặt; anh B vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Trƣớc đây, chị và anh Vũ Văn B là vợ chồng, do không thể chung sống đƣợc với nhau nên đầu năm 2019 chị đã đề nghị Tòa án giải quyết về ly hôn và nuôi con. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đƣơng sự số 61/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2019 của TAND huyện Tứ Kỳ đã công nhận thuận tình ly hôn giữa chị và anh Vũ Văn B, giao con chung Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 cho anh B nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục, anh B tự nguyện không yêu cầu chị phải cấp dƣỡng nuôi con, chị có quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai đƣợc cản trở. Tuy nhiên từ sau khi vợ chồng ly hôn đến nay, anh B nuôi con không đảm bảo vì khi anh B còn ở nhà cũng không trực tiếp chăm sóc con chung mà để cho ông bà nội là ông Vũ Song H và bà Vũ Thị N chăm sóc, nuôi dƣỡng. Hiện nay, anh B đã đi xuất khẩu lao động tại N. Do công việc của ông bà nội bận, buổi tối không có ai dạy dỗ, bảo ban cháu học. Vì vậy, chị xin đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 cho đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi) và tự nguyện không yêu cầu anh B cấp dƣỡng nuôi con. Hiện nay chị đang làm Công ty in ấn M ở xã Q, huyện Tứ Kỳ, mức thu nhập trung bình từ 08 triệu đến 09 triệu đồng/tháng, chị đi làm từ 7 giờ 30 sáng đến 18 giờ tối, trong đó có tăng ca 1,5 tiếng. Về chỗ ở: hiện nay chị đang ở một mình nhà một tầng của bố mẹ đẻ, bố đẻ chị đã chết, mẹ đẻ chị hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nƣớc ngoài, ngoài ra các chị em trong gia đình không có ai ở nhà.
- Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải, bị đơn anh Vũ Văn B trình bày:
Trƣớc đây, anh và chị H là vợ chồng hợp pháp. Do có nhiều mâu thuẫn, không thể chung sống với nhau, chị H đã làm đơn xin ly hôn anh và yêu cầu giải quyết con chung, hai bên đã thoả thuận đƣợc toàn bộ các nội dung vụ án nên tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đƣơng sự số 61/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2019 của TAND huyện Tứ Kỳ đã quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của hai bên về việc giao con chung Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 cho anh nuôi dƣỡng và chấp nhận sự tự nguyện của anh không yêu cầu chị H cấp dƣỡng nuôi con. Nay, chị H xin thay đổi nuôi con, anh không nhất trí vì: Chị H sống một mình, đi làm công nhân thƣờng xuyên đi sớm về muộn, không có thời gian đƣa đón con; Về kinh tế: anh cũng không biết hiện chị H làm gì và mức thu nhập nhƣ thế nào; mặc dù không có tài liệu chứng minh nhƣng trong cuộc sống chị H là ngƣời không chung thuỷ, dẫn đến vợ chồng ly hôn. Anh đang làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại N nên chƣa có thu nhập để xuất trình cho Toà án. Trƣờng hợp anh đi xuất khẩu lao động, anh sẽ tạm thời nhờ bố mẹ anh thay anh chăm sóc con chung, sau khi về nƣớc anh sẽ trực tiếp nuôi con, hiện bố mẹ anh vẫn khoẻ mạnh, có thể hỗ trợ anh trong việc nuôi con. Về điều kiện ăn ở, sinh hoạt: Hiện bố con anh đang ở chung với bố mẹ đẻ, bố mẹ anh chỉ có hai chị em, chị gái anh đã lập gia đình có cuộc sống riêng, nhà ở của bố mẹ anh rộng rãi, có phòng riêng đủ cho bố con anh sinh hoạt. Hơn nữa, cháu C đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng xin đƣợc ở với anh và ông bà nội, cháu đang có cuộc sống, học tập ổn định, nếu phải thay đổi môi trƣờng sống sẽ ảnh hƣởng đến việc học tập của con. Vì vậy, anh xin đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung, trƣờng hợp anh đƣợc tiếp tục nuôi con, anh tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dƣỡng nuôi con.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Song H, bà Vũ Thị N trình bày: Ông, bà là bố mẹ đẻ anh Vũ Văn B và là ông bà nội của cháu Vũ Nguyễn Thành C. Anh B đã đi xuất khẩu lao động tại N từ ngày 24/9/2019, thời hạn theo hợp đồng khoảng 3 năm, trƣớc khi đi anh B đã uỷ quyền cho ông ở nhà thay mặt anh B chăm sóc, nuôi dƣỡng cháu C. Ông nhất trí với quan điểm của anh B, không nhất trí giao cháu C cho chị H nuôi dƣỡng bởi các lý do nhƣ anh B đã trình bày với Toà án. Mặc dù ông bà không thể dạy cháu học nhƣng buổi tối vẫn có bác ruột cháu (chị gái anh B) ở cùng xóm dạy bảo cháu học. Cho đến nay, cháu C vẫn khoẻ mạnh, phát triển bình thƣờng, lực học của cháu đạt kết quả tốt. Trƣờng hợp Toà án giao cháu C cho anh B tiếp tục nuôi dƣỡng, vợ chồng ông sẽ hỗ trợ anh B nuôi con với những điều kiện tốt nhất. Trong thời gian anh B đi lao động, vợ chồng ông sẽ tạm thời chăm sóc, nuôi dƣỡng cháu C cho đến khi anh B về nƣớc, ông bà sẽ giao lại cháu C cho anh B nuôi dƣỡng;
- Kết quả làm việc với đại diện UBND xã Q và cán bộ lao động thƣơng binh xã hội xã Q cung cấp: Từ khi chị H, anh B kết hôn đã ở chung với vợ chồng ông Vũ Song H và bà Vũ Thị N (bố đẻ anh B). Cháu C cũng ở với ông H, bà Nhuân từ nhỏ, đƣợc ông bà chăm sóc cẩn thận. Khi anh chị ly hôn, anh B đi làm ăn xa, cháu C đều do ông bà nội chăm sóc, thỉnh thoảng có thấy chị H về thăm con. Hiện ông H, bà N còn khoẻ mạnh, gia đình thuộc hộ kinh tế khá giả, nhà ở khang trang sạch sẽ. Nay chị H xin thay đổi ngƣời nuôi con sau khi ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Kết quả làm việc với đại diện UBND xã Q và cán bộ lao động thƣơng binh xã hội xã Qc và trƣởng thôn T, xã Q nơi chị H sinh sống, đƣợc cung cấp: Từ khi ly hôn với anh B, chị H đã chuyển khẩu về địa phƣơng sinh sống, hiện làm công nhân tại xã Q. Chị H sống một mình tại nhà của bố mẹ đẻ, không ở cùng ai, nhà đất rộng rãi, đầy đủ tiện nghi, đảm bảo cuộc sống sinh hoạt. Bố mẹ chị H sinh đƣợc ba ngƣời con, bố chị H đã chết, mẹ đẻ và hai em gái của chị H đều đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan hiện chƣa về. Nay, chị H xin thay đổi ngƣời nuôi con sau khi ly hôn và xin đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu C, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Kết quả làm việc với đại diện Trƣờng tiểu học Q và giáo viên chủ nhiệm lớp 2D, đƣợc cung cấp: Cháu Vũ Nguyễn Thành C là con của chị H, anh B, cháu học tại trƣờng từ năm lớp 1 đến nay, hiện đang học lớp 2D do cô Phạm Thị Hồng T là chủ nhiệm. Qua theo dõi, quản lý thấy cháu có sức khoẻ tốt, chăm chỉ học tập, ngoan ngoãn, chú ý học trên lớp, tƣ tƣởng ổn định. Hàng ngày, ông Vũ Song H và bà Vũ Thị N trực tiếp đƣa đón cháu, các khoản tiền đóng góp theo quy định của Nhà trƣờng là do ông bà nội trực tiếp nộp; Riêng khoản tiền ăn bán trú tại trƣờng của cháu C, cả tháng 8 và tháng 9/2019 là do chị Nguyễn Thị H (mẹ cháu) nộp trực tiếp cho nhà trƣờng. Nay, chị H xin thay đổi ngƣời nuôi con sau khi ly hôn và xin đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu C, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà ngày 18/11/2019, chị H có quan điểm trƣờng hợp anh B và gia đình không gây khó khăn cho chị trong việc thăm nom, đón con, chị sẽ không thay đổi ngƣời nuôi con sau khi ly hôn.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin thay đổi nuôi con của chị H. Giao cho chị Nguyễn Thị H đƣợc nuôi dƣỡng con chung Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 cho đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh B cấp dƣỡng nuôi con. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai đƣợc cản trở. Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tại thời điểm Toà án thụ lý vụ án, bị đơn anh Vũ Văn B đang cƣ trú tại huyện Tứ Kỳ, nên TAND huyện Tứ Kỳ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định của BLTTDS. Sau đó anh B mới đi xuất khẩu lao động ở nƣớc ngoài, thì Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ phải tiếp tục giải quyết vụ án mà không thay đổi thẩm quyền theo quy định tại Điều 471 BLTTDS; Bị đơn anh Vũ Văn B đã đƣợc Toà án triệu tập đến tham gia phiên toà hợp lệ lần thứ 2 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt anh B.
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đƣơng sự số 61/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2019 của TAND huyện Tứ Kỳ đã giao con chung Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 cho anh Vũ Văn B nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục, anh B tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dƣỡng nuôi con. Nay chị Nguyễn Thị H xin thay đổi ngƣời nuôi con sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn B không đồng ý.
Xét thấy, việc xin nuôi con của chị H, anh B là hoàn toàn chính đáng, xuất phát từ tình cảm của cha, mẹ đối với con. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi dƣỡng, cần phải xem xét một cách khách quan, toàn diện về mọi mặt, tất cả vì quyền lợi của con chƣa thành niên, Hội đồng xét xử thấy: Về điều kiện kinh tế tại thời điểm hiện nay thì cả anh B và chị H đều đi làm và có thu nhập, hai bên đều có điều kiện về chỗ ở, sinh hoạt đảm bảo cho việc nuôi con là nhƣ nhau. Tuy nhiên, chị H và anh B mới ly hôn nhau từ tháng 3/2019, tại thời điểm Toà án giải quyết ly hôn, việc giao con cho anh Vũ Văn B nuôi dƣỡng là do hai bên tự nguyện thoả thuận, không bị ai ép buộc. Hơn nữa, từ khi cháu Vũ Nguyễn Thành C sinh ra đã ở với vợ chồng anh B và ông bà nội, đƣợc ông bà nội chăm sóc từ bé. Khi chị H, anh B ly hôn, cháu vẫn ở với anh B và ông bà nội cho đến nay, cháu đã có cuộc sống ổn định, học tập, phát triển bình thƣờng, chăm ngoan lễ phép. Bản thân cháu C đã trên 7 tuổi, khi đƣợc Toà án ghi lời khai, có sự chứng kiến của cả chị H và anh B, cháu vẫn thể hiện nguyện vọng xin đƣợc ở với bố và ông bà nội (kể cả trong trƣờng hợp anh B đi lao động ở nƣớc ngoài). Hiện chị H sinh sống một mình, bản thân chị H cũng làm công nhân, thời gian làm việc hàng ngày từ 7 giờ sáng đến 18 giờ, trong đó có tăng ca 1,5 tiếng nên thời gian đƣa đón con sẽ rất khó khăn vì không nhờ đƣợc ai giúp đỡ. Mặc dù giao con cho anh B (do ông bà nội nuôi dƣỡng), chị H vẫn có quyền thăm nom, đón con về chăm sóc, giáo dục khi rảnh rỗi hoặc những ngày lễ, tết đƣợc nghỉ, tại phiên tòa ngày 18/11/2019, chị H cũng có quan điểm trƣờng hợp anh B và ông bà nội cháu tạo điều kiện để chị thăm gặp, đón con để chăm sóc chị sẽ không thay đổi việc nuôi con. Bản thân anh B đi xuất khẩu lao động ở nƣớc ngoài cũng có thời hạn, trong thời gian không có nhà, anh B cũng đã nhờ bố mẹ đẻ là ông Vũ Song H và bà Vũ Thị N tạm thời chăm sóc. Kết quả xác minh cũng cho thấy, cháu C khoẻ mạnh, phát triển bình thƣờng, học tập ổn định. Nếu phải thay đổi môi trƣờng sống sẽ ảnh hƣởng đến quyền lợi của con chung. Vì vậy, việc yêu cầu thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi dƣỡng cháu C là không cần thiết, nên không chấp nhận yêu cầu của chị H theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình. Chấp nhận sự tự nguyện của anh B không yêu cầu chị H cấp dƣỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện không đƣợc chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 471 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Giao cho anh Vũ Văn B đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung là cháu Vũ Nguyễn Thành C, sinh ngày 07/7/2012 đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của anh B về việc không yêu cầu chị H cấp dƣỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, đƣợc đối trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, theo biên lai số AA/2017/0005239 ngày 09/9/2019.
3. Về quyền kháng cáo: Ông H có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; chị H, anh B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THA dân sự huyện Tứ Kỳ; - UBND xã QK; - UBND xã QP; - Các đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VP; ỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |