vanban.org

Bản án 54/2019/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Võ Thị Minh Hiền, võ Thị Kiều Trang"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!CHÂU!THÀNH!
TỈNH!LONG!AN!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 54/2019/DS-ST
Ngày : 17-10-2019
V/V tranh chấp hụi”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CHÂU!THÀNH!TỈNH!LONG!AN!

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Trí!

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị Hải.

Ông Trần Quang Vinh.

"Thư"ký"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"huyện"Châu"Thành"tỉnh"Long"An"tham" gia"phiên"tòa: Ông Nguyễn Tấn Vũ- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý 126/2019/TLST-DS ngày 01 tháng89 năm 2019 về “tranh chấp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2019/QĐXX-ST ngày 24 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:!Bà Võ Thị Minh H. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Bà Võ Thị Kiều T. Địa chỉ: ấp D, xã M, huyện H, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Kim H. Địa chỉ: Ấp 1, xã C, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08-7-2019 và quá trình giải quyết vụ án bà Võ Thị Minh H là nguyên đơn trình bày: Vào năm 2016 bà là hụi viên, tham gia choi hụi do bà T là chủ dây hụi cụ thể như sau:

Dây hụi : Ngày 25/02/2016 (AL) hụi bốn tháng khui một lần, hụi 5.000.000 đồng, gồm có 18 hụi viên, hụi hoa hồng là 2.500.000 đồng, bà tham gia một phần, hụi bắt đầu khui vào ngày 25/02/2016, bà đã đóng được 6 kỳ hụi sống với số tiền là 15.100.000 đồng, bà T tuyên bố vỡ hụi vào tháng 8 năm 2018 AL và không giao hụi lại cho bà là 15.100.000 đồng.

Việc khui hụi, đóng hụi giữa bà và bà T thì thỉnh thoảng ông H có mặt ở nhà, có lúc con bà T khui hụi, việc đóng hụi thì bà T thu tiền hụi. Nay bà yêu cầu bà T, ông H phải liên đới trả cho bà 15.100.000 đồng trong thời gian hai tháng, tính từ ngày 17/10/2019.

Bà Võ Thị Kiều T là bị đơn trình bày: Qua lời trình bày của bà H thì bà H có đóng số tiền hụi như trên là đúng, việc chơi hụi thì ông H không hay biết. Nay bà xin trả cho bà H ba lần, lần thứ nhất vào ngày 30/3/2020 trả 5.000.000 đồng, lần thứ hai 30/8/2020 trả 5.000.000 đồng, lần thứ ba 30/12/2020 trả 5.100.000 đồng.

Ông Nguyễn Kim H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Người tiến hành tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án dân sự Thẩm phán tuân thủ các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Những người tham gia phiên tòa: Các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Bà Minh H yêu cầu bà T, ông H liên đới trả 15.100.000 đồng tiền vốn hụi. Bà T thừa nhận còn nợ bà Minh H số tiền hụi trên. Bà T cho rằng chỉ bà chơi hụi, ông H không biết, bà T tổ chức chơi hụi vào mục đích cải thiện cuộc sống gia đình, nên cần buộc bà T, ông H cùng liên đới trả cho bà H 15.100.000 đồng.

Tại phiên toà các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ, cũng như không yêu cầu đưa thêm người tham gia tố tụng khác và không có yêu cầu gì khác.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Căn cứ vào các chứng cứ của vụ án và kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bà Võ Thị Minh H khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H phải liên đới trả tiền vốn hụi về việc “tranh chấp hụi” được quy định tại các điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông H có đơn xin vắng mặt, Tòa án căn cứ vào điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy bà Minh H yêu cầu bà T và ông H phải liên đới trả vốn hụi là 15.100.000 đồng, không tính lãi, bà T thừa nhận bà còn nợ bà Minh H số tiền trên nhưng xin trả dần không được bà H chấp nhận. Việc bà T xin trả dần không được bà H chấp nhận, không phù hợp với quy định của pháp luật nên không có cơ sở chấp nhận.

Bà T và ông H là vợ chồng, các bên phát sinh việc chơi hụi trong thời kỳ hôn nhân, diễn ra tại nhà ông H và bà T trong thời gian dài, bà T trình bày việc chơi hụi giữa bà và bà Minh H, ông H không biết, là không có cơ sở chấp nhận. Nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Minh H buộc ông H, bà T liên đới trả cho bà Minh H là 15.100.000 đồng theo quy định tại Điều 288, 471 Bộ luật dân sự năm 2015, khi án có hiệu lực pháp luật và Điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 hướng dẫn về hụi, họ, biêu, phường. Bà T xin trả dần bà Minh H không đồng ý và không phù hợp với quy định của pháp luật, do đó không có cơ sở chấp nhận.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí:

Bà H không phải chịu án phí.

Bà T, ông H phải liên đới chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

- Căn cứ các điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điều 288, 468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Áp dụng Điều 37 Luật hôn nhân gia gia đình;

- Áp dụng Điều 18, Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 hướng dẫn về hụi, họ, biêu, phường.

Tuyên"xử:!

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Minh H về việc “tranh chấp hụi” với bà Võ Thị Kiều T, ông Nguyễn Kim H.

Buộc bà T, ông H phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Minh H 15.100.000 đồng (mười lăm triệu một trăm nghìn đồng) tiền vốn hụi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015

2. Về án phí:

Bà Minh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà Minh H được nhận lại 377.000 đồng (ba trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002158 ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Bà T, ông H phải liên đới nộp 755.000 đồng (bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ