vanban.org

Bản án 54/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với bị đơn ông Trần Minh H về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xử buộc ông Trần Minh H phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số tiền nợ gốc và lãi là 85.250.077 đồng (Tám mươi lăm triệu, hai trăm năm mươi nghìn, không trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là: là 38.859.537 đồng (ba mươi tám triệu, tám trăm năm mươi chín nghìn, năm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V - Trần Minh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với bị đơn ông Trần Minh H về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2019/DS-ST
Ngày: 28-11-2019
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thanh Phương

Bà Phan Thị Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Liên - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 332/2019/TLST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2019/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (V).

Trụ sở: 89 L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ liên lạc: Tầng 2, số 96 C, phường 4, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D. Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền của ông D: Ông Đỗ Thành T. Chức vụ: Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH quản lý tài sản Ngân hàng TMCP V kiêm Phó giám đốc Pháp chế và kiểm soát tuân thủ, V hội sở (theo văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018).

Người đại diện theo ủy quyền của ông T:

+ Ông Nguyễn Tiên M, sinh năm 1995. Chức vụ: Chuyên viên tố tụng – V AMC. Địa chỉ liên lạc: Tầng 2, số 96 C, phường 4, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền số 22965/2019/UQ-PLTCMN ngày 03/8/2019).

+ Ông Trần Duy A, sinh năm 1994. Chức vụ: Chuyên viên tố tụng – V AMC. Địa chỉ liên lạc: Tầng 2, số 96 C, phường 4, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền số 22965/2019/UQ-PLTCMN ngày 03/8/2019).

Bị đơn: Ông Trần Minh H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: A/188 ấp P, xã Đ1, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Ông M và ông H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/4/2019, các lời khai tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn - Ngân hàng thương mại cổ phần V do ông Nguyễn Tiên M đại diện trình bày:

Ngày 22/7/2016, ông Trần Minh H có ký hợp đồng tín dụng (Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng điện tử và vay vốn) với Ngân hàng thương mại cổ phần V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng V) để vay số tiền là 50.000.000 đồng. Lãi suất vay là 35%/năm, được điều chỉnh định kỳ 3 tháng 1 lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 hằng năm; mức độ điều chỉnh lãi suất bằng: lãi suất bán vốn của bên Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 27%/năm. Lãi suất bán vốn là mức lãi suất do hội sở chính của bên Ngân hàng xác định từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay: 36 tháng. Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân. Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay trên cho ông H vào ngày 02//8/2016. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông H có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng V số tiền gốc và lãi hàng tháng, trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng tính từ ngày giải ngân 2/9/2016 và trả vào ngày 02 hàng tháng. Khi cho vay hai bên không cầm cố hoặc thế chấp tài sản để đảm bảo thanh toán nợ.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Minh H đã thanh toán cho ngân hàng 13 kỳ với số tiền 28.259.402 đồng, trong đó gồm: nợ gốc là 11.140.463 đồng và tiền lãi là 17.118.939 đồng. Kể từ ngày 04/8/2017 đến nay, ông H không thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nợ gốc và lãi nào cho Ngân hàng V. Do đó, nguyên đơn - Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu ông Trần Minh H có trách nhiệm thanh toán một lần cho ngân hàng số tiền gốc còn lại là 38.859.537 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 28/11/2019 là 46.390.540 đồng. Tổng số tiền nợ gốc và lãi Ngân hàng V yêu cầu ông H thanh toán là 85.250.077 đồng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai đã tống đạt hợp lệ cho ông H các văn bản tố tụng sau: Thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; Thông báo giao nộp chứng cứ; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông H đã không đến Tòa tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến, cung cấp tài liệu chứng cứ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả tiền vay tổng cộng gốc lãi là 85.250.077 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu ông Trần Minh H thanh toán số tiền vay theo hợp đồng tín dụng ký ngày 22/7/2016 nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Bị đơn ông Trần Minh H có địa chỉ thường trú tại A/188, ấp P, xã Đ1, huyện N, tỉnh Đồng Nai và tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, ông H vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống thường xuyên tại địa chỉ nêu trên nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa, trong đó đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Tiên M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V:

Xét Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng điện tử và vay vốn ngày 22/7/2016 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn: Hợp đồng này đúng nguyên tắc, tuân thủ đầy đủ hình thức theo quy định của Bộ luật dân sự. Theo nội dung hợp đồng (đã được Ngân hàng V phê duyệt) thì nguyên đơn đã cho bị đơn vay số tiền là 50.000.000 đồng. Lãi suất vay là 35%/năm, được điều chỉnh định kỳ 3 tháng 1 lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 hằng năm; mức độ điều chỉnh lãi suất bằng: lãi suất bán vốn của bên Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 27%/năm. Lãi suất bán vốn là mức lãi suất do hội sở chính của bên Ngân hàng xác định từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay: 36 tháng. Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân. Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay trên cho ông H vào ngày 02//8/2016. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông H có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng V số tiền gốc và lãi hàng tháng, trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng tính từ ngày giải ngân 2/9/2016 và trả vào ngày 02 hàng tháng. Khi cho vay hai bên không cầm cố hoặc thế chấp tài sản để đảm bảo thanh toán nợ.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Minh H đã thanh toán cho ngân hàng 13 kỳ với số tiền 28.259.402 đồng, trong đó gồm: nợ gốc là 11.140.463 đồng và tiền lãi là 17.118.939 đồng. Kể từ ngày 04/8/2017 đến nay, ông H không thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nợ gốc và lãi nào cho Ngân hàng V. Như vậy, ông H đã vi phạm thỏa thuận về nghĩa vụ trả nợ quy định tại Điều 4 phần II của Bộ điều khoản và điều kiện về sử dụng tài khoản và thanh toán, thẻ ghi nợ và vay tiêu dùng cá nhân. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V, buộc ông Trần Minh H phải có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng số tiền gốc còn lại là 38.859.537 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 28/11/2019 là 46.390.540 đồng. Tổng số tiền nợ gốc và lãi ông H phải thanh toán cho ngân hàng là 85.250.077 đồng.

Về việc xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm được áp dụng theo Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ.CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối Cao.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Trần Minh H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 471, 474 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ.CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với bị đơn ông Trần Minh H về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xử buộc ông Trần Minh H phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số tiền nợ gốc và lãi là 85.250.077 đồng (Tám mươi lăm triệu, hai trăm năm mươi nghìn, không trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó bao gồm:

Nợ gốc là: là 38.859.537 đồng (ba mươi tám triệu, tám trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm ba mươi bảy đồng)

Tiền lãi tạm tính đến ngày 28/11/2019 là: 46.390.540 đồng (bốn mươi sáu triệu, ba trăm chín mươi nghìn, năm trăm bốn mươi đồng)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Trần Minh H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Trần Minh H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí: ông Trần Minh H phải chịu 4.262.504 đồng (bốn triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm lẻ bốn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.790.000 đồng (một triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009522 ngày 08/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đồng Nai.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Ngân hàng thương mại cổ phần V và ông Trần Minh H được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ