- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp Quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Đoàn Văn B; giữ nguyên ản án dân sự sơ thẩm số 135/2018/DS-ST ngày 09/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện M.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54 /2019/DS-PT Ngày: 12 - 4 – 2019 V/v Tranh chấp Quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện.
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Nguyễn
Ông Đào Chí Keo
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dự – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Phước - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 04 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2019/TLPT-DS ngày 21 tháng 01 năm 2019 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2019 /QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn B, sinh năm 1957.
Cư trú: Số 200, ấp Long T, xã Long G, huyện M, tỉnh An Giang – Vắng mặt,
Ngư i đại diện h p pháp của ông Đoàn Văn B: Ông Đoàn Hùng V, sinh năm 1962. Cư trú: Long T, xã Long G, huyện M, tỉnh An Giang là đại diện theo ủy quyền theo giấy ủy quyền ngày 17/8/2017
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phước L, sinh năm 1973
Cư trú: Tổ 7, ấp Long T, xã Long G, huyện M, tỉnh An Giang – Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Thanh T, sinh năm 1960 yêu cầu xét xử vắng mặt .
Cư trú: Ấp Long T, xã Long G, huyện M, tỉnh An Giang.
2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1949 yêu cầu xét xử vắng mặt ;
Cư trú: Ấp T, xã Long G, huyện M, tỉnh An Giang.
3. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 yêu cầu xét xử vắng mặt ;
Cư trú: Ấp Long T, xã Long G, huyện M, tỉnh An Giang.
4. Bà V Thị L, sinh năm 1973; Có mặt
5. Nguyễn Ng c N, sinh năm 2000;
6. Nguyễn Phước L, sinh năm 2003;
7. Nguyễn Bảo N, sinh năm 2005.
Cùng cư trú: Tổ 7, ấp Long T, xã Long G, huyện M, tỉnh An Giang.
Ngư i đại diện h p pháp của Nguyễn Ng c N, Nguyễn Phước L, Nguyễn Bảo N: Ông Nguyễn Phước L, à V Thị L (là cha mẹ ruột) là đại diện theo pháp lu t.
8. Bà Dương Thị P, sinh năm 1950.
Cư trú: Ấp T, xã Long G, huyện M, tỉnh An Giang. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông Đoàn Hùng V là ngư i đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình ày: Nguồn gốc đất tranh chấp do ông, à để lại cho ông B, ông B đư c Ủy an nhân dân huyện M cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 03548 QSDĐ/kB ngày 12/11/2001 thửa số 181, t ản đồ số 06, diện tích 56.30m2 đất t a lạc ấp Long T, xã Long G, huyện M, tỉnh An Giang. Đến tháng 8/2016 ông Nguyễn Phước L xây nhà liền kề với phần đất của ông B đã lấn sang phần đất ông B có chiều ngang mặt trước 0.10m, mặt sau 1.4m, dài 19.42m, diện tích là 14.56m2. Ngoài ra trên không còn lấn chiếm sang ngang 0.30m, dài 19.42m (vì ông L xây nhà tư ng kiên cố, có 01 lầu . Ông B có yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết thì ông L cam kết ơm cát, cuốn nền, cất nhà cho ông B và ồi hoàn thêm số tiền 40.000.000 ốn mươi triệu đồng, ông L đư c tiếp tục sử dụng phần đất đã lấn chiếm của ông B. Đến ngày 28/02/2017 ông L có giao cho ông B số tiền 40.000.000 ốn mươi triệu đồng, nhưng không ơm cát, cuốn nền và cất nhà cho ông B như đã th a thu n. Trước đây ông B yêu cầu ông Nguyễn Phước L tháo dỡ, di d i nhà trả lại cho ông B phần đất đã lấn chiến có diện tích 14.56m2. Và phần trên không có chiều ngang 0.30m, chiều dài 19.42m. Sau khi Tòa án công ố chứng cứ là sơ đồ khu đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện M năm 2017 thì ông B thống nhất với ảng vẽ này và căn cứ ảng vẽ này yêu cầu ông L trả lại phần đất lấn chiếm cụ thể diện tích theo ảng vẽ sơ đồ khu đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện M năm 2017. Ông B đồng ý trả lại cho ông Nguyễn Phước L số tiền đã nh n 40.000.000 đồng. Ông B không yêu cầu Tòa án tiến hành định giá lại tài sản tranh chấp.
Bị đơn ông Nguyễn Phước L trình ày: Phần đất tranh chấp là của cha ông tên Nguyễn Văn L nh n chuyển như ng của v chồng ông Trần Thanh T, bà Nguyễn Thị T mua theo diện tích giấy chứng nh n số 03547 QSDĐ/kB ngày 12/11/2001 với giá 30.000.000 đồng vào năm 2008, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Đến tháng 8/2016 thì cha ông cho ông phần đất này và ông đã cất nhà, khi xây nhà thì không iết đã lấn sang phần đất của ông B. Đến khi chính quyền địa phương m i giải quyết thì mới iết đã lấn sang phần đất của ông B phía sau 0.8m, dài 19.42m và phía trên không nhà nhưng chưa xác định đư c lấn chiếm sang ao nhiêu? Tại phiên hòa giải tại Ủy an nhân xã Long G thì các ên đã thống nhất theo iên ản hòa giải ngày 24/02/2017 và ông đã giao cho ông B số tiền 40.000.000 ốn mươi triệu đồng, còn phần ơm cát, cuốn nền nhà và di d i nhà để cất hoàn thiện thì ông sẽ tiếp tục làm hoặc ông B đưa ra mức giá h p lý thì ông sẽ hỗ tr cho ông B để ông đư c tiếp tục sử dụng phần đất đã lấn chiếm này. Sau khi Tòa án công ố sơ đồ khu đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện M năm 2017, ông không yêu cầu Tòa án đo đạc và định giá lại. Đối với số cát đã ơm, cuốn nền ông không yêu cầu ông B trả lại số tiền này, đối với số tiền 40.000.000 đồng ông đã giao cho ông B thì ông đồng ý tiếp tục để cho ông B đư c sở hữu. Ông yêu cầu đư c tiếp tục sử dụng phần đất đã lấn chiếm của ông B và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.
Ngư i có quyền l i và nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh T, bà Nguyễn Thị T trình bày: Vào năm 2008, ông à có th a thu n chuyển như ng quyền sử dụng đất 03547 QSDĐ/kB ngày 12/11/2001 diện tích 67,10m2, t 06, số thửa 212) cho ông Nguyễn Văn L, với giá 30.000.000 đồng. Việc chuyển như ng này có làm giấy tay, ông à có ký tên vào t mua án, đã nh n đủ số tiền chuyển như ng là 30.000.000 đồng từ ông A và đã giao diện tích đất này cho ông A sử dụng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Nay ông B và ông L có tranh chấp ông à không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Ông Nguyễn Văn L và bà Dương Thị P trình ày: Vào năm 2008 ông, à có nh n chuyển như ng quyền sử dụng đất diện tích 67,10m2 theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 03547 QSDĐ/kB cấp ngày 12/11/2001 của ông Trần Thanh T, à Nguyễn Thị T, giá chuyển như ng 30.000.000 đồng, hai ên đã giao nh n đất và đã trả tiền xong nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Năm 2016 ông, bà cho con trai tên Nguyễn Phước L diện tích đất này để xây nhà. Đối với vụ tranh chấp này ông, à không có ý kiến hay yêu cầu gì, tùy Nguyễn Phước L quyết định.
Tại ản án dân sự sơ thẩm số 135/2018/DS-ST ngày 09 - 10 -2018 của Tòa án nhân dân huyện M đã xử:
- Chấp nh n một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn B.
- Ông Đoàn Văn B đư c sở hữu số tiền 40.000.000 ốn mươi triệu đồng mà ông Nguyễn Phước L đã giao.
- Công nh n sự tự nguyện của ông Nguyễn Phước L hỗ tr thêm cho ông Đoàn Văn B số tiền 10.000.000 mư i triệu đồng.
- Ông Nguyễn Phước L đư c quyền sử dụng diện tích đất 1,7m2 thể hiện tại các điểm 5, 6, 11, 9, 8 và diện tích đất 04m2 thể hiện tại các điểm 9, 10, 14, 13, 11 theo sơ đồ khu đất tranh chấp năm 2017 của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện Ch Mới. Ông Nguyễn Phước L đư c sử dụng không gian và lòng đất theo chiều th ng đứng của hai diện tích đất trên.
- Ông Đoàn Văn B, ông Nguyễn Phước L liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp lu t.
Ngoài ra ản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí ,quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án
Ngày 18/10/2018 Ông Đoàn Văn B có đơn kháng cáo, nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn ộ ản án số 135/2018/DSST ngày 09/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện M; chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông uộc ông Nguyễn Phước L tháo dỡ mái ngói không gian phía trên lấn chiếm 4m2, đ p dỡ nhà lấn chiếm đất 1,7 m2 trả lại cho ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Đoàn Văn B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, Các đương sự không th a thu n với nhau về việc giải quyết vụ án và xác định không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới phát sinh sau phiên tòa sơ thẩm đã xét xử;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa phát iểu:
-Việc tuân theo pháp lu t của Thẩm phán đư c phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử cũng như Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp lu t của những ngư i tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước th i điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng theo quy định pháp lu t tố tụng dân sự
- Về đề xuất hướng giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ lu t tố tụng dân sự: Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Đoàn Văn B, giữ nguyên ản án sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã đư c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và nghe l i phát iểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
. Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Đoàn Văn B trong hạn lu t định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định pháp lu t nên đư c Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nh n
. Về tố trụng: ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ lu t tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử theo thủ tục chung
.Xét nội dung kháng cáo của ông Đoàn Văn B thì thấy:
Theo quy định của Lu t đất đai năm 2013: Giấy chứng nh n QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất h p pháp của ngư i có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất; đư c Nhà nước ảo hộ khi ngư i khác xâm phạm quyền, l i ích h p pháp về đất đai của mình;
.Ông Đoàn Văn B đư c Ủy an nhân dân huyện M cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 03548/kB ngày 12/11/2001, thửa số 181, t ản đồ số 06, diện tích 56,3 m2 tại xã Long G, huyện M, tỉnh An Giang
.Tại Công văn số 306/UBND-NC ngày 12/3/2018 của Ủy an nhân dân huyện M thì việc cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số 03548/kB ngày 12/11/2001, thửa số 181, t ản đồ số 06, diện tích đất 56,3m2 loại đất ở tại nông thôn cho ông Đoàn Văn B đúng đối tư ng, đúng trình tự thủ tục quy định;
. Các đương sự cùng thống nhất về việc ông Lcất nhà có lấn phần không gian 04 m2 và lấn diện tích đất 1,7 m2 nằm trong giấy chứng nh n quyền sử dụng đất của ông B theo sơ đồ khu đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện M vẽ năm 2017 ; vì v y, ông B yêu cầu ông Ltrả lại diện tích đất đã lấn chiếm là có căn cứ.Tuy nhiên hiện nay ông Nguyễn Phước L đã xây dựng nhà kiên cố, nếu uộc tháo dỡ để trả lại đất và không gian trên sẽ làm ảnh hưởng đến kết cấu căn nhà gây thiệt hại lớn về tài sản của ông Lành. Mặt khác theo kết quả định giá tài sản ngày 15/9/2017 thì giá đất thị trư ng là 1.000.000 đồng/m2, nếu tính giá trị đất lấn chiếm là 5,7 m2 x 1.000.000 đồng/m2 = 5.700.000 đồng, nhưng ông L tự nguyện ồi hoàn 40.000.000 đồng, ơm cát nền nhà và hỗ tr thêm 10.000.000 đồng nữa là thể hiện sự thiện chí và có l i nhiều cho ông B. Tòa án cấp sơ thẩm công nh n cho ông L đư c sử dụng đất và ông L hoàn trả giá trị đất cho ông B là phù h p. Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đều không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì để ảo vệ quyền l i cho mình.
Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của ông B không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét
Đề nghị của Viện kiểm sát phù h p với nh n định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nh n.
.Về án phí : Ông B đư c miễn án phí án phí DSPT theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thư ng vụ Quốc Hội
.Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ lu t tố tụng dân sự;
Phúc xử:
Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Đoàn Văn B; giữ nguyên ản án dân sự sơ thẩm số 135/2018/DS-ST ngày 09/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện M.
Căn cứ vào các Điều 166, 203 Lu t Đất đai;
Điều 6, 175, 176 Bộ lu t dân sự;
Điều 26, 35, 39, 71, 92, 147, 228 Bộ lu t tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nh n một phần yêu cầu của ông Đoàn Văn B khởi kiện đối với ông Nguyễn Phước L.
- Ông Đoàn Văn B đư c sở hữu số tiền 40.000.000 ốn mươi triệu đồng mà ông Nguyễn Phước L đã giao.
- Công nh n sự tự nguyện của ông Nguyễn Phước L hỗ tr thêm cho ông Đoàn Văn B số tiền 10.000.000 mư i triệu đồng.
- Ông Nguyễn Phước L đư c quyền sử dụng diện tích đất 1,7m2 thể hiện tại các điểm 5, 6, 11, 9, 8 và diện tích đất 04m2 thể hiện tại các điểm 9, 10, 14, 13, 11 theo sơ đồ khu đất tranh chấp năm 2017 của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện Ch Mới. Ông Nguyễn Phước L đư c sử dụng không gian và lòng đất theo chiều th ng đứng của hai diện tích đất trên.
- Ông Đoàn Văn B, ông Nguyễn Phước L liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp lu t.
- Chi phí tố tụng gồm chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản):
Ông Nguyễn Phước L phải chịu 500.000 năm trăm nghìn đồng, tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ (ông L đã nộp đủ).
Ông Nguyễn Phước L có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Đoàn Văn B 1.724.300 một triệu ảy trăm hai mươi ốn nghìn a trăm đồng (tiền tạm ứng chi phí tố tụng do ông B đã nộp)
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Phước L phải chịu 300.000 a trăm nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Đoàn Văn B đư c miễn án phí dân sư sơ thẩm, nên đư c nh n lại 300.000 đồng a trăm nghìn tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0014012 ngày 08/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch Mới.
-Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đoàn Văn B đư c miễn án phí dân sự phúc thẩm, nên đư c nh n lại 300.000 đồng a trăm ngàn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo iên lai thu số 0000232 ngày 19/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch Mới.
Về nghĩa vụ ch m thi hành án: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp lu t đối với các trư ng h p cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i đư c thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho ngư i đư c thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ lu t Dân sự năm 2015.
Trư ng h p Bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền th a thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Lu t Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM - VKSND t An Giang; - VKSND h M - TAND h M; - Cục THADS t An Giang; - Chi cục THADS h M; - Phòng KTNV&THA; - Văn phòng; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thiện |