vanban.org

Bản án 54/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 02/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
QUẬN!Ô!MÔN!
THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2018/HSST
Ngày: 02/10/2018

NHÂN!DANH!

!NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN!Ô!MÔN!–!THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"

1/ Bà Lê Thị Tân An

2/ Ông Dương Văn Nghiêm

- Thư ký phiên tòa:!Ông Huỳnh Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Trân – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 02 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2018/HSST ngày 22/8/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2018/QĐXXST-HS ngày 18/9/2018 đối với bị cáo:

Lý!Hoàng!K, sinh ngày 10.10.199*.

Nơi cư trú: Khu vực **, phường Châu Văn L***, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Con ông Lý Sa Quanh N, sinh năm 1972 và bà Đào Thị B, sinh năm 1971, bị cáo có 06 người anh, em ruột bị cáo là con lớn trong gia đình và nhỏ nhất sinh năm 2014.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp tạm giam từ ngày 11/6/2018 đến nay tại nhà tạm giữ, Công an quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

-"Người bị hại:

Chị Lê!Bội!A, sinh năm 199*.

Nơi cư trú: Khu vực **, phường Châu Văn L***, quận Ô, thành phố Cần Thơ (Có mặt).

-"Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"

1/ Ông Lý!Sa!Quanh!N, sinh năm 1972.

Nơi cư trú: Khu vực **, phường Châu Văn L***, quận Ô, thành phố Cần Thơ (Có mặt).

2/ Chị Lý!Khánh!H**, sinh năm 2000.

Nơi cư trú: Khu vực **, phường Châu Văn L***, quận Ô, thành phố Cần Thơ (Có mặt).

3/ Người giám hộ của Lý!Khánh!H** là ông Lý!Sa!Quanh!N, sinh năm 1972.

Nơi cư trú: Khu vực **, phường Châu Văn L***, quận Ô, thành phố Cần Thơ(Có mặt).

Người"làm"chứng:"

1/ Anh Huỳnh!Đạt!M***, sinh năm 1989.

Nơi cư trú: Khu vực **, phường Châu Văn L***, quận Ô, thành phố Cần Thơ(Vắng mặt).

2/ Anh Trần!Nhất!M***, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Khu vực** , phường Châu Văn L***, quận Ô, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).

3/ Chị Lương!Tú!A**, sinh năm 1977.

Nơi cư trú: Khu vực Bình Kh, phường Phước T, quận Ô, thành phố Cần Thơ(Vắng mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/6/2018, Lý Hoàng K, sinh năm 1999, cư trú khu vực **, phường Châu Văn L***, quận Ô, thành phố Cần Thơ đến tiệm “Net T***” ở cùng khu vực để chơi game, do không có máy nên K** ra phía trước ngồi, lúc này chị Lê Bội A** sinh năm 1993 chủ tiệm Net và Lương Tú A** sinh năm 1977 đang ngồi nói chuyện ở phía trước nhà. Khoảng 10 phút sau K đi vào trong tiệm Net xem có máy không, khi đi ra thấy có cái ví xách tay đặt trên bàn nơi chị Bội A** và chị Tú A** ngồi nói chuyện nên K nảy sinh ý định lấy trộm, K đi lại lấy cái ví cất giấu vào trong người, khi đến đầu hẻm nhà K mở ví ra kiểm tra phát hiện trong ví có tổng cộng 7.912.025 đồng, trong đó có: 6.395.000 đồng tiền Việt Nam gồm (10 tờ mệnh giá 500.000 đồng, khoảng 800.000 đồng tờ mệnh giá 50.000 đồng và một số tiền lẻ mệnh giá 20.000 đồng, 10.000 đồng và 5.000 đồng); 09 đô la Mỹ (02 tờ 01 đô, 01 tờ 02 đô và 01 tờ 05 đô); 60.000 Won Hàn Quốc (01 tờ 50.000 Won và 01 tờ 10.000 Won), 01 thẻ ATM và 01 giấy chứng minh nhân dân của chị Lê Bội A**. Tiếp theo đó K** đi về nhà lấy tiền vừa trộm cho cha ruột là ông Lý Sa Quanh N, sinh năm 1972 số tiền 500.000 đồng, cho em ruột là Lý Khánh H**, sinh ngày 01/11/2000 số tiền 500.000 đồng và 09 đô la Mỹ, 60.000 Won Hàn Quốc. K đến tiệm điện thoại Kim V mua một điện thoại di động hiệu Oppo F1 Plus với giá 3.900.000 đồng, mua nón và túi đeo chéo vai nam hết 260.000 đồng ở tiệm H V thuộc khu vực **, phường Châu Văn L***, quận Ô, thành phố Cần Thơ, mua một cái điện thoại Samsung của một người đàn ông không rõ họ tên ở chợ Ô Môn với giá 700.000 đồng và uống cà phê hết 50.000 đồng. Riêng cái điện thoại Samsung sau khi mua xong K cho T (không rõ họ tên và địa chỉ). Đến ngày 11/6/2018 Lý Hoàng K đến công an phường Châu Văn Liêm đầu thú và giao nộp tiền còn lại là 485.000 đồng cùng toàn bộ vật chứng.

Qúa trình điều tra ông Lý Sa Quanh N và Lý Khánh H*** không biết tiền K cho là do trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở xử lý. Lý Khánh H*** đã giao nộp tiền Việt Nam 500.000 đồng, tiền đô la Mỹ (USD) gồm: 02 tờ mệnh giá 01 đô la, 01 tờ mệnh giá 02 đô la, 01 tờ mệnh giá 05 đô la, tổng cộng là 09 đô la; tiền Hàn Quốc gồm: 01 tờ mệnh giá 50.000 Won, một tờ mệnh giá 10.000 Won, tổng cộng là 60.000 Won (BL 18). Ông N giao nộp 500.000 đồng (Bút lục 128) tại cơ quan điều tra để bồi thường thiệt hại cho bị hại. Ngày 02/10/2018 ông Na đã giao số tiền 600.000đồng (Sáu trăm nghìn đồng) cho bị hại.

Cơ quan điều tra đã thu hồi được tài sản và đã trả bị hại giấy chứng minh nhân dân, thẻ ATM.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KLĐG ngày 06/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản quận Ô Môn kết luận: 01 cái ví da xách tay nữ màu đen, không rõ nhãn hiệu tại thời điểm xảy ra mất trộm ngày 10/6/2018 không có giá trị: 0 đồng.

Căn cứ công văn số 14/CV-TCT-KT ngày 22/6/2018 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần ngoại thương Việt Nam chi nhánh Tây Cần Thơ xác định: 09 USD đổi thành tiền là 205.425đồng, 60.000 KRW đổi thành tiền 1.311.600 đồng. Tổng cộng 1.517.025 đồng.

Tình tiết giảm nhẹ: Bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Vật chứng gồm: Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.485.000 đồng; tiền đô la Mỹ (USD) gồm: 02 tờ mệnh giá 01 đô la, 01 tờ mệnh giá 02 đô la, 01 tờ mệnh giá 05 đô la, tổng cộng là 09 đô la; tiền Hàn Quốc gồm: 01 tờ mệnh giá 50.000 Won, một tờ mệnh giá 10.000 Won, tổng cộng là 60.000 Won; 01 cái ví xách tay nữ màu đen; 01 điện thoại Oppo F1 Plus màu trắng hồng, một bộ dây sạc điện thoại Samsung màu trắng và một điện thoại Samsung; 01 cái túi đo chéo vai màu đen; 01 cái nón kết màu nâu đen xanh, giấy chứng minh nhân dân, thẻ ATM và các giấy tờ tùy thân khác.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại thẻ ngân hàng ATM, chứng minh nhân dân, bị hại yêu cầu bị cáo trả số tiền còn lại và giao tài sản mà bị cáo dùng tiền của bị hại để mua đồ, cụ thể: 01 điện thoại Oppo F1 Plus màu trắng hồng, một bộ dây sạc điện thoại Samsung màu trắng; 01 cái túi đo chéo vai màu đen; 01 cái nón kết màu nâu đen xanh.

Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKS-OM ngày 20 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đã truy tố Lý Hoàng Kha về tội “Trộm"cắp"tài" sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn trình bày lời luận tội vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Lý Hoàng K theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng. Đồng thời phân tích những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s và bổ sung thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lý Hoàng K mức án từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:!Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận việc cơ quan điều tra - Công an nhân dân quận Ô Môn trả lại cho bị hại chị Lê Bội A giấy tờ tùy thân, thẻ ngân hàng ATM.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo K trả lại cho chị số tiền còn lại đã lấy trộm và giao cho bị hại các tài sản do bị cáo dùng tiền của bị hại để mua đồ, cụ thể: 01 điện thoại Oppo F1 Plus màu trắng hồng, một bộ dây sạc điện thoại Samsung màu trắng; 01 cái túi đo chéo vai màu đen; 01 cái nón kết màu nâu đen xanh và cái ví da xách tay nữ màu đen.

- Bị cáo Lý Hoàng K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, xin được giảm nhẹ hình phạt và xin miễn án phí. Bị cáo đồng ý trả lại tiền và giao 01 điện thoại Oppo F1 Plus màu trắng hồng, một bộ dây sạc điện thoại Samsung màu trắng; 01 cái túi đo chéo vai màu đen; 01 cái nón kết màu nâu đen xanh cho bị hại.

- Bị hại Lê Bội A trình bày ý kiến và nội dung giống như cáo trạng và yêu cầu Hội đồng xét xử xử nhẹ đối với bị cáo.

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Lý Sa Quanh N đã giao số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) cho bị hại là ông thay K bồi thường cho bị hại và ông không yêu cầu bị cáo trả lại cho ông.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.!

[2]. Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận của bị cáo Lý Hoàng K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người bị hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và vật chứng thu giữ được. Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh vào khoảng 14 giờ ngày 10/6/2018, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, bị cáo K đã lén lút lấy cái ví của chị Lê Bội A cất giấu vào trong người, khi đến đầu hẻm nhà K mở ví ra kiểm tra phát hiện trong ví có tổng cộng 7.912.025 đồng, trong đó có: 6.395.000 đồng tiền Việt Nam gồm ( 10 tờ mệnh giá 500.000 đồng, khoảng 800.000 đồng tờ mệnh giá 50.000 đồng và một số tiền lẻ mệnh giá 20.000 đồng, 10.000 đồng và 5.000 đồng); 09 đô la Mỹ (02 tờ 01 đô, 01 tờ 02 đô và 01 tờ 05 đô); 6.000 Won Hàn Quốc (01 tờ 5.000 Won và 01 tờ 1.000 Won), 01 thẻ ATM và 01 giấy chứng minh nhân dân của chị Lê Bội A để lấy tiền tiêu xài cá nhân và cho người thân. Ngày 11/6/2018 Lý Hoàng K đến công an phường Châu Văn Liêm đầu thú và giao nộp tiền còn lại là 485.000 đồng cùng toàn bộ vật chứng.

Căn cứ công văn số 14/CV-TCT-KT ngày 22/6/2018 của Ngân hàng thương mại Cổ phần ngoại thương Việt Nam chi nhánh tây Cần Thơ xác định: 09 đô đổi thành tiền là 205.425 đồng, 60.000 KRW đổi thành tiền là 1.311.600 đồng. Tổng cộng 1.517.025 đồng.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Bị cáo đã trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức hành vi, có hoàn cảnh khó khăn thể hiện qua việc gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo là người dân tộc với cha và các em nhỏ lẽ ra bị cáo phải biết ra sức lao động, học tập và chấp hành pháp luật tốt để trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo trộm cắp tài sản của người khác để có tiền nhanh chóng để phục vụ nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Do đó, để có tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội cần có một mức án phù hợp, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian ăn năn, hối cải về hành vi sai trái của mình, để từ đó biết sửa đổi bản thân, sống đặt mình trong khuôn khổ của pháp luật.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay thể hiện bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, tại điểm b, i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử khi lượng hình có xem xét thái độ khai báo thật thà có xem xét đến những tình tiết này để căn nhắc hình phạt phù hợp đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng. Tuy nhiên, do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và để tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo khi chấp hành án nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Đối với ông Lý Sa Quanh N và chị Lý Khánh H*** khi bị cáo cho tiền thì không biết đây là tài sản trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý. Lý Khánh H đã giao nộp tiền Việt Nam 500.000 đồng, tiền đô la Mỹ (USD) gồm: 02 tờ mệnh giá 01 đô la, 01 tờ mệnh giá 02 đô la, 01 tờ mệnh giá 05 đô la, tổng cộng là 09 đô la; tiền Hàn Quốc gồm: 01 tờ mệnh giá 50.000 Won, một tờ mệnh giá 10.000 Won, tổng cộng là 60.000 Won (BL 18). Lý Sa Quanh Na giao nộp 500.000 đồng (Bút lục 128) tại cơ quan điều tra và Na đã giao số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) cho bị hại là ông thay K bồi thường cho bị hại và ông không yêu cầu bị cáo trả lại cho ông, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận việc cơ quan điều tra - Công an nhân dân quận Ô Môn đã trả lại cho Lê Bội A một giấy chứng minh nhân dân, thẻ ATM.

Bị hại liên hệ với Chi cục Thi thành án dân sự quận Ô Môn nhận: 01 điện thoại Oppo F1 Plus màu trắng hồng, một bộ dây sạc điện thoại Samsung màu trắng; 01 cái túi đeo chéo vai nam màu đen; 01 cái nón kết màu nâu- đen- xanh.

Đối với vật chứng không thu hồi được: Quá trình điều tra Lý Hoàng G đã khai cho T*** 01 điện thoại Samsung, không rõ địa chỉ tên tuổi của T*** và không ai có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn nhận lại số tiền 09 đô la Mỹ, 60.000 Won, 1.485.000 đồng và 01 cái ví xách tay nữ màu đen.

[8]. Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì"các"lẽ"trên,""

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

*!Tuyên!bố: Bị cáo Lý Hoàng Kha phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i và s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử!phạt:!Lý!Hoàng!K!06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày 11/6/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

*!Về!xử!lý!vật!chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận việc cơ quan điều tra-Công an nhân dân quận Ô Môn đã trả lại cho Lê Bội A một giấy chứng minh nhân dân, thẻ ATM.

Bị hại liên hệ Chi cục Thi thành án dân sự quận Ô Môn nhận: 01 điện thoại Oppo F1 Plus màu trắng hồng, một bộ dây sạc điện thoại Samsung màu trắng; 01 cái túi đeo chéo vai màu đen; 01 cái nón kết màu nâu đen xanh.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Lý Sa Quanh N đã giao số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) cho bị hại là ông thay K bồi thường cho bị hại và ông không yêu cầu bị cáo trả lại cho ông, nên không đặt ra xem xét.

Đối với vật chứng không thu hồi được: Quá trình điều tra Lý Hoàng K đã khai cho T*** 01 điện thoại Samsung, không rõ địa chỉ tên tuổi của T*** và không ai có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

* Về!trách!nhiệm!dân!sự: Bị hại liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn nhận lại số tiền 09 đô la Mỹ, 60.000 Won, 1.485.000 đồng và cái ví da xách tay nữ màu đen.

*!Về!án!phí!hình!sự!và!dân!sự!sơ!thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi!nhận:!

Cỡ chữ