- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Q phạm tội Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * TuY bố: Bùi Thị Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI TP. HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2018/HSST Ngày: 30/8/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Phong. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Tuấn.
Bà Nguyễn Thị Hoa.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Sơn - Thư ký TAND huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai - thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lƣu Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2018/HSST ngày 01/8/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2018/QĐXXST-HS ngày 15/8/2018 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Thị Q - Sinh năm 1986, tại Hà Nội; HKTT và chỗ ở: thôn Đồng Vàng, xã Phú Mãn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: nhân viên nấu ăn của trường mầm non xã ĐX, huyện Quốc Oai, Hà Nội; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Bùi Văn Quy (đã chết); Con bà: Bùi Thị Y; Chồng: không; Con: có 02 con; con lớn nhất SN 2008, con nhỏ nhất SN 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 10/9/2012 bị TAND huyện Quốc Oai, TP Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng, về tội: Trộm cắp tài sản; Ngày 14/11/2013 chấp hành xong án treo; Danh chỉ bản số 168 Công an huyện Quốc Oai lập ngày 30/5/2018; Bị cáo tại ngoại; Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời bị hại: Trường mầm non xã ĐX, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
Địa chỉ: Xã ĐX, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: chị Nguyễn Ngọc A – SN 1989(vắng mặt)
Trú tại: Thôn Đá Thâm, Xã ĐX, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị Y – SN 1965(có mặt)
Trú tại: thôn Đồng Vàng, xã Phú Mãn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/5/2018, đồn công an Đông Hòa Phú - Công an huyện Quốc Oai nhận được đơn đề nghị của chị Nguyễn Ngọc A - Sinh năm 1989 ở thôn Đá Thâm, xã ĐX, huyện Quốc Oai (là kế toán của trường mầm non xã ĐX, huyện Quốc Oai) về việc: chiều ngày 08/5/2018, chị A để xe máy BKS 29V7- 19299 ở trong nhà xe của trường rồi lên họp, trong cốp xe có khoảng 13.500.000đồng để trong 01 chiếc ví đã cũ rách (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) và : 01 máy tính Casino hỏng. Sau khi nhận được tin báo, công an đồn Đông Hòa Phú đã tiến hành xác minh, làm rõ và xác định Bùi Thị Q - Sinh năm 1986; HKTT: thôn Đồng Vàng, xã Phú Mãn, huyện Quốc Oai,TP Hà Nội (là nhân viên nấu ăn của trường) đã có hành vi trộm cắp số tài sản trên của chị A và đã chuyển hồ sơ lên công an huyện Quốc Oai để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định nội dung vụ án như sau:
Khoảng 15 giờ 30 ngày 08/5/2018
, Bùi Thị Q đang rửa bát tại điểm lẻ trường mầm non xã ĐX thuộc thôn Đồng Bèn, xã ĐX thì thấy chị A đến thu tiền ăn của trẻ do phụ huynh học sinh đến nộp. Q quan sát thấy chị A để tiền vào ví rồi đút vào túi nilon màu vàng để trong cốp xe máy BKS 29V7- 19299, rồi chị A đi xe máy về điểm chính của trường mầm non có trụ sở tại thôn Cửa khâu, xã ĐX để họp. Sau đó Q cũng về điểm chính của trường mầm non để họp. Khoảng 18 giờ 15 cùng ngày thì Q xin phép nghỉ trước, sau đó Q đi đến chỗ nhà để xe của trường thì thấy chiếc túi nilon màu vàng thò ra bên ngoài cốp xe máy của chị A. Quan sát xung quanh không có ai, nên Q đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Q thò tay trái vào giữa Y xe và cốp xe trộm cắp được 01 máy tính cầm tay hiệu CASIO và 01 ví da màu nâu rồi đi về. Khi về nhà, Q kiểm tra số tiền trộm cắp được là 13.534.500 đồng (Mười ba triệu năm trăm ba tư nghìn lăm trăm đồng), sau đó Q giấu số tài sản trộm cắp được tại nhà tắm của gia đình. Q đã dùng số tiền trộm cắp được để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết 5.100.000 đồng. Do lo sợ bị phát hiện, nên ngày 11/5/2018 Q đã mang chiếc máy tính cầm tay và chiếc ví bên trong có 8.434.500 đồng để vào ngăn bàn trong nhà để xe cạnh vị trí Q đã trộm cắp. Đến khoảng 08 giờ ngày 11/5/2018, chị Nguyễn Thị Lý- Sinh năm 1992; HKTT: thôn Đồng Bồ, xã ĐX, huyện Quốc Oai (là nhân viên nấu ăn của trường) đã vô tình tìm thấy 01 máy tính cầm tay vào 01 chiếc ví da bên trong có số tiền là 8.434.500 đồng để vào ngăn bàn trong nhà để xe, chị Lý đã giao nộp cho ban giám hiệu nhà trường. Khoảng 15 giờ ngày 12/5/2018, Bùi Thị Q đã tự nói với mẹ đẻ là bà Bùi Thị Y - sinh năm 1965; HKTT: thôn Đông Vàng, xã Phú Mãn, huyện Quốc Oai là mình đã trộm cắp tài sản của chị A và nhờ bà Y đi vay hộ 5.000.000 đồng để trả lại cho chị A. Sau đó, đến khoảng 20 giờ ngày 12/5/2018 Q đã đến gặp chị A để xin lỗi và thừa nhận hành vi trộm cắp, đồng thời trả chị A số tiền là 5.100.000 đồng mà trước đó Q đã tiêu xài cá nhân. Chị A đã tự nguyện giao nộp toàn bộ tài sản đã bị mất cho cơ quan điều tra.
Thu giữ tang vật gồm:
- 01 máy tính cầm tay hiệu CASIO đã hỏng, không hoạt động.
- 01 ví da màu nâu, đã cũ rách.
- Số tiền là 13.534.500đồng
(Mười ba triệu năm trăm ba tư nghìn lăm trăm đồng).
Đối với chiếc máy tính CASIO đã hỏng không hoạt động và chiếc ví da đã cũ rách, không còn giá trị nên chị A đã có đơn xin từ chối định giá tài sản.
Ngày 24/5/2018, cơ quan CSĐT- Công an huyện Quốc Oai đã tiến hành trao trả cho chị A toàn bộ số tài sản trên, sau khi nhận lại tài sản chị A không có đề nghị gì khác, đồng thời chị A có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Bùi Thị Q.
Quá trình điều tra bị can Bùi Thị Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình (BL từ 63- 82), lời nhận tội của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại ( BL từ 30-37 ), vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án.
Tại bản cáo trạng số 51/KSĐT ngày 19/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai - thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Bùi Thị Q về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 - BLHS 2015.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bùi Thị Q thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Toà xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện VKS tại phiên toà giữ nguY quyết định truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 - BLHS 2015 như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai.
* Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 - BLHS năm 2015.
- Xử phạt: Bùi Thị Q từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Giao bị cáo về ủy ban nhân dân xã Phú Mãn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về dân sự người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xét.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với những lời khai mà bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được - do vậy có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 18 giờ 15 ngày 05/8/2018, tại nhà để xe của điểm chính trường mầm non xã ĐX, huyện Quốc Oai thuộc thôn Cửa khâu, xã ĐX, huyện Quốc Oai, Hà Nội, Bùi Thị Q đã có hành vi lén lút trộm cắp số tiền chị Nguyễn Ngọc A vừa thu của phụ huynh học sinh cho nhà trường là 13.534.500đồng để trong cốp xe máy BKS: 29V7-192.99 của chị Nguyễn Ngọc A.
. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo tố tụng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự ổn định xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình Tòa xét bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo là người dân tộc nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, trộm cắp số tiền không lớn đã bồi thường khắc phục hậu quả, nhân thân đã bị xét xử 01 bản án đã được xóa án tích thuộc trường hợp được coi là không có án tích, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tính giáo dục.
Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền. Song xét bị cáo không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền, vì vậy miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
. Về dân sự người bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xét.
.Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
* TuY bố: Bùi Thị Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65
- BLHS năm 2015.
- Xử phạt: Bùi Thị Q 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuY án.
Giao bị cáo về ủy ban nhân dân xã Phú Mãn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
“ Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”
* Áp dụng: Điều 136; Điều 331; Điều 333; Điều 337-BLTTHS năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án.
Đại diện của người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |