vanban.org

Bản án 54/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Tuyên án 23/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ L 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Vũ L phải nộp 200.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vũ L - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU
––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2018/HS-ST
Ngày 23 - 10 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Bùi Hữu Khánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hằng Mơ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 10 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Vũ L - Sinh năm 1980 tại huyện C, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khóm 3, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng Xa, sinh năm 1953 và bà Lê Thị Hiền, sinh năm 1954; Anh chị em ruột có 02 người, lớn nhất là sinh năm 1979 đã chết; Vợ là Lâm Hồng Thi (đã ly hôn vào năm 2015) và 02 người con sinh năm 2004 và 2008; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14 tháng 8 năm 2018 (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Ngô Tuyết Nh, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm 1, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Hoàng Anh, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm 1, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

2. Chị Trịnh Út Tén, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Thị Tường A, xã Hưng Mỹ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

3. Chị Trƣơng Thúy Duy, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đường Cày, xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Vũ L là em vợ cũ của anh Trần Hoàng Anh là nhân viên Công ty VNPT huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Vì L biết được Hoàng Anh có quen biết với chủ cửa hàng điện thoại di động Hoàng Sử ở khóm 1, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân nên L nảy sinh ý định lấy uy tín của anh Trần Hoàng Anh để lừa đảo cửa hàng điện thoại di động Hoàng Sử để chiếm đoạt tài sản. Vào khoảng 09 giờ ngày 13/4/2018 L đang ở nhà ở khóm 3, thị trấn C dùng số điện thoại di động của mình là 0942.769.790 gọi vào số điện thoại di động 0918.777.707 của vợ anh Nguyễn Việt Sử là chủ cửa hàng điện thoại di động Hoàng Sử. Lúc này chị Ngô Tuyết Nh là vợ anh Sử nghe máy và L tự xưng tên mình là Hoàng Anh và nói: “ Em là Hoàng Anh làm ở VNPT huyện Phú Tân”. Nghe L nói vậy chị Nh liền hỏi: “Có gì không vậy em”, L nói muốn mua một điện thoại di động hiệu OPPO khoảng 05 triệu đồng để tặng cha vợ ở C và kêu chị Nh đem đến C giao, tiền thì chiều về thanh toán. Chi Nh tin là thật nên đồng ý bán cho L một điện thoại di động hiệu OPPO A83 với giá 4.990.000 đồng và kêu Trương Thúy Duy là nhân viên cửa hàng đem chiếc điện thoại di động đến giao cho L tại bưu điện cũ thuộc khóm 3, thị trấn C, huyện C. Khi gặp L thì chị Duy yêu cầu L viết biên nhận và yêu cầu được chụp hình ảnh L nhận điện thoại để làm cơ sở báo lại với chủ cửa hàng. Lúc này L vẫn tự xưng tên mình là Hoàng Anh và viết biên nhận với tên là Trần Hoàng Anh. Sau khi nhận được điện thoại xong thì L đem điện thoại đến cửa hàng kinh doanh điện thoại di động A Tén ở chợ Rau Dừa để bán với số tiền 3.200.000 đồng, L đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên đồng thời quăng bỏ biện thoại của mình và bỏ trốn. Sau khi chị Duy giao điện thoại di động hiệu OPPO A83 cho L xong thì đưa hình ảnh lúc L nhận điện thoại mà chị chụp được báo lại cho chủ cửa hàng điện thoại di động mới phát hiện ra người nhận điện thoại không phải là anh Trần Hoàng Anh. Biết bị lừa nên chị Duy đến Công an thị trấn C trình báo sự việc. Quá trình điều tra L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội

Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL - HĐĐGTS ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Điện thoại di động OPPO A83 trị giá 4.491.000 đồng.

Vật chứng vụ án là chiếc điện thoại di động OPPO A83 của chủ cửa hàng điện thoại di động Hoàng Sử, sau khi L đem bán cho cửa hàng kinh doanh điện thoại di động A Tén tại chợ Rau Dừa thì anh Trịnh Út Tén là chủ cửa hàng đã bán lại cho người khác không rõ họ tên và địa chỉ nên không thu hồi được. Hiện nay gia đình bị cáo Nguyễn Vũ L đã bồi thường lại toàn bộ thiệt hại cho cửa hàng Hoàng Sử, bị hại không yêu cầu thêm về trách nhiệm dân sự.

Bản cáo trạng số 46/CT - VKS ngày 28 tháng 8 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Nguyễn Vũ L về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện C thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Đối với anh Trịnh Út Tén là chủ cửa hàng kinh doanh điện thoại di động A Tén khi mua lại chiếc điện thoại di động OPPO A83 của bị cáo thì anh Tén không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không đề cập xử lý là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận vào khoảng 09 giờ sáng ngày 13/4/2018, bị cáo ở nhà ở khóm 3, thị trấn C, huyện C dùng số điện thoại di động của mình là 0942.769.790 gọi vào số điện thoại di động 0918.777.707 của chị Ngô Tuyết Nh là vợ anh Nguyễn Việt Sử - chủ cửa hàng điện thoại di động Hoàng Sử. Lúc này L tự xưng tên mình là Hoàng Anh và nói: “Em là Hoàng Anh làm ở VNPT huyện Phú Tân” và muốn mua 01 điện thoại di dộng. Lúc này L nói muốn mua một điện thoại di động hiệu OPPO khoảng 05 triệu đồng để tặng cha vợ ở C và kêu chị Nh đem đến C giao, tiền thì chiều về thanh toán. Chi Nh tin là thật nên đồng ý bán cho L một điện thoại di động hiệu OPPO A83 với giá 4.990.000 đồng và kêu Trương Thúy Duy là nhân viên cửa hàng đem chiếc điện thoại di động đến giao cho L tại bưu điện cũ thuộc khóm 3, thị trấn C, huyện C. Khi gặp L thì chị Duy yêu cầu L viết biên nhận và yêu cầu được chụp hình ảnh L nhận điện thoại để làm cơ sở báo lại với chủ cửa hàng. Lúc này L vẫn tự xưng tên mình và viết biên nhận với tên là Trần Hoàng Anh. Sau khi nhận được điện thoại xong thì L đem điện thoại đến cửa hàng kinh doanh điện thoại di động A Tén ở chợ Rau Dừa để bán với số tiền 3.200.000 đồng, L đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên đồng thời quăng bỏ biện thoại của mình và bỏ trốn.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL - HĐĐGTS ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Điện thoại di động OPPO A83 trị giá 4.491.000 đồng. Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự .

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với không gian, thời gian, phù hợp với bản tự nhận, kết quả định giá, lời khai của bị hại, người liên quan cùng với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương; gây tâm lý lo âu cho người dân. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm để bị cáo có thời gian cải tạo thành người công dân tốt khi hòa nhập cộng đồng nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Gia đình bị cáo Nguyễn Vũ L là gia đình có công với cách mạng, bị cáo Nguyễn Vũ L đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và bị cáo đã được bị hại yêu cầu bãi nại cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay gia đình bị cáo Nguyễn Vũ L đã bồi thường lại toàn bộ thiệt hại cho cửa hàng Hoàng Sử, bị hại không yêu cầu thêm về trách nhiệm dân sự.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án là chiếc điện thoại di động OPPO A83 của chủ cửa hàng điện thoại di động Hoàng Sử, sau khi L đem bán cho cửa hàng kinh doanh điện thoại do động A Tén tại chợ Rau Dừa thì anh Trịnh Út Tén là chủ cửa hàng đã bán lại cho người khác không rõ họ tên và địa chỉ nên không thu hồi được. Hiện nay gia đình bị cáo Nguyễn Vũ L đã bồi thường lại toàn bộ thiệt hại cho cửa hàng Hoàng Sử, bị hại không yêu cầu thêm về trách nhiệm dân sự do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ L 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Vũ L phải nộp 200.000 đồng.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ