- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Thu T yêu cầu ly hôn Nguyễn Tất P"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu T.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2018/HNGĐ-ST Ngày: 14-11-2018 V/v tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,
TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trà Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Thanh
Bà Nguyễn Thị Tài Định.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Như-Thư ký Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thùy Dương-Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1977, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tất P, sinh năm 1973, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số 156 C đường NSL, tổ 23, phường TP, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06-7-2018, bản tự khai ngày 27-7-2018 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Tất P tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 26-9-1997. Sau khi đăng ký kết hôn cho đến năm 2016 vợ chồng sống không hạnh phúc, vì ông P đánh bạc, uống rượu, ngoại tình, về nhà đánh đập vợ con. Hai bên gia đình khuyên giải nhưng ông P không nghe mà còn đánh số đề, bỏ nhà đi gần 01 tuần mới về, về nhà tìm cớ chửi bới và đánh đập vợ con, vu khống vợ ngoại tình. Nay bà không còn tình cảm với ông P nữa, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Tất P.
Về con chung: Bà và ông Nguyễn Tất P có 02 con chung Nguyễn Tất Huỳnh Tài, sinh ngày 27-7-1998, Nguyễn Tất Quyền, sinh ngày 17-01-2002 hiện đang ở với mẹ. Khi ly hôn bà T yêu cầu giao cháu Q cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng không yêu cầu ông Nguyễn Tất P cấp dưỡng nuôi con, còn cháu Tài đã đủ 18 tuổi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Tất P không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thụ lý giải quyết đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, Điều 97, Điều 196, Điều 203, Điều 208, Điều 211, Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa, đã tuân theo đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu T. Bà Huỳnh Thị Thu T ly hôn ông Nguyễn Tất P. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Thu T và ông Nguyễn Tất P có 02 con chung là Nguyễn Tất Huỳnh Tài, sinh ngày 27-7-1998, Nguyễn Tất Quyền, sinh ngày 17-01-2002. Giao cháu Nguyễn Tất Quyền cho bà Huỳnh Thị Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Tất P không cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Nguyễn Tất Huỳnh Tài đã đủ 18 tuổi, bà Huỳnh Thị Thu T không yêu cầu giải quyết nên không xét. Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Thu T trình bày tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thu T trình bày không có. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Tất P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu T và ông Nguyễn Tất P tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 26-9-1997 là hợp pháp. Bà T cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông P đánh bạc, uống rượu, ngoại tình, về nhà đánh đập vợ con, nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Tất P. Bị đơn ông Nguyễn Tất P không đến Tòa án để làm việc, hòa giải, không đến phiên tòa để trình bày, cho thấy ông P không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên phải chịu hậu quả về việc không đưa ra các chứng cứ và chứng minh theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét thấy, lý do xin ly hôn của bà T chính đáng, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông P đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, bà Huỳnh Thị Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Tất P.
Về con chung: Bà T và ông P có 02 con chung Nguyễn Tất Huỳnh T, sinh ngày 27-7-1998, Nguyễn Tất Q, sinh ngày 17-01-2002 hiện đang ở với mẹ sức khỏe vẫn tốt. Bà T làm nghề buôn bán thu nhập ổn định đảm bảo điều kiện để nuôi cháu Quyền, còn ông P cũng làm nghề buôn bán có thu nhập, nhưng ít có thời gian chăm sóc cháu Quyền và nguyện vọng của cháu Quyền khi cha mẹ ly hôn cháu Quyền ở với bà T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của cháu Quyền, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu Quyền cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử giải thích cho bà T hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để bà T biết, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con, nhưng bà T vẫn không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không buộc ông P cấp dưỡng nuôi con, là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung: Bà T trình bày tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T trình bày không có.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, bà T phải chịu 300.000 đồng.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Với những nhận định trên phù hợp với ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu T.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu T được ly hôn ông Nguyễn Tất P.
2/ Về con chung: Bà Huỳnh Thị Thu T và ông Nguyễn Tất P có 02 con chung là Nguyễn Tất Huỳnh Tài, sinh ngày 27-7-1998, Nguyễn Tất Quyền, sinh ngày 17-01-2002 hiện đang ở với mẹ. Giao cháu Nguyễn Tất Quyền cho bà Huỳnh Thị Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Tất P không cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Nguyễn Tất Huỳnh Tài đã đủ 18 tuổi, bà Huỳnh Thị Thu T không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3/ Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Thu T trình bày tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thu T trình bày không có.
5/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà T đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/0003500 ngày 27 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.
6/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Nguyễn Tất P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tp Quảng Ngãi; - Chi cục THADS tp Quảng Ngãi; - UBND phường Trần Phú, TP. Quảng Ngãi; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Trà Thanh Tùng |