- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Võ Tấn G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2018/HNGĐ-ST Ngày 02 /5/2018 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thành Long
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân
-Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Tấn Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh.
Ngày 02 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 29/2017/TLST-HNGĐ ngày 21/12/2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/3/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2018/QĐST-HNGĐ ngày 11/4/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm 4, thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
2. Bị đơn: Anh Võ Tấn G, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Xóm 4, thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/12/2017; bản tự khai ngày 09/01/2018 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh Võ Tấn G có tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi ngày 05 tháng 8 năm 2009, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp nhau, thường xuyên bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau, tuy đã có gia đình nhưng anh G không chịu lo làm ăn để xây dựng hạnh phúc gia đình mà suốt ngày ham mê cờ bạc, nhiều lần đã được gia đình khuyên bảo nhưng anh G vẫn chứng nào tật đó.
Nay tình cảm giữa chị và anh G không còn nữa, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Võ Tấn G.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung, cháu tên là Võ Nguyễn Bảo A, sinh ngày 17/7/2011, hiện đang do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu A, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng.
Bị đơn : Anh Võ Tấn G không nộp văn bản trình bày cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên bản hôm nay bị đơn anh Võ Tấn G vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S và anh Võ Tấn G là quan hệ hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T vào ngày 09/8/2009. Theo chị S thì trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Anh G tuy đã có gia đình nhưng vẫn ham chơi, thiếu trách nhiệm với vợ con, không chịu lo làm ăn để xây dựng gia đình hạnh phúc mà ham mê cờ bạc, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh G vẫn không chịu sửa đổi, vì vậy chị S và anh G sống ly thân từ năm 2016 đến nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh G nhiều lần để làm việc và hòa giải nhưng anh G vẫn không có mặt. Chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị S và anh G đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn của chị S là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, chấp nhận đơn khởi kiện về việc chị Nguyễn Thị S ly hôn với anh Võ Tấn G.
Về con chung: Chị S và anh G có 01 người con, tên là Võ Nguyễn Bảo A, sinh ngày 17/7/2011, hiện đang do chị S nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị S yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu A, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con. Xét hiện nay cháu A sống ổn định với chị S và cháu A có đơn nguyện vọng được ở với chị S, nên giao cháu Võ Nguyễn Bảo A cho chị S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh G không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng, nên không xét.
Chị Nguyễn Thị S phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Võ Tấn G.
Về con chung: Giao cháu Võ Nguyễn Bảo A, sinh ngày 17/7/2011, hiện đang do chị Nguyễn Thị S nuôi dưỡng cho chị Nguyễn Thị S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh Võ Tấn G không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cơ quan tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị S phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000709 ngày 21 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, chị S đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Kháng cáo: Chị Nguyễn Thị S có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Anh Võ Tấn G vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện ST; - Chi cục THADS huyện ST; - UBND xã TH; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Hoàng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hoàng |