- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thu T được ly hôn với anh Lê Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 54/2018/HNGĐ-ST Ngày: 18/10/2018 V/v: "Xin ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Ngọc Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phước Lộc
2. Ông Dương Tấn Đấu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Cẩm Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc: Không tham gia.
Trong ngày 18 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 338/2018/TLST-HNGD ngày 07 tháng 9 năm 2018 về việc “Xin ly hôn ”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 57/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thu T, sinh năm 1991
Địa chỉ: Tổ A, khu vực B, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
* Bị đơn: Anh Lê Thanh H, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn D, huyện P, Kiên Giang.
(Chị T và anh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai nguyên đơn chị Dương Thị Thu T trình bày: Năm 2017, chị và anh H tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau chung sống vợ chồng. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện P, Kiên Giang ngày 22/02/2017.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẽ hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cải nhau, bất đồng ý kiến trong cuộc sống, không có tiếng nói chung dẫn đến hạnh phúc gia đình không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 11/2017 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân không đạt được, không thể nào chung sống với nhau được nữa nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 20/9/2018 bị đơn anh Lê Thanh H trình bày: Về quan hệ hôn nhân, tài sản chung và công nợ chung thì anh thống nhất với lời trình bày của chị T. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh H thống nhất ly hôn với chị T.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Dương Thị Thu T và bị đơn anh Lê Thanh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2017, chị T và anh H tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau và chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện P, Kiên Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 22/02/2017, đây là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng hay cải nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh H.
Tại bản tự khai chị T khẳng định không còn tình cảm với anh H nên không thể tiếp tục chung sống được nữa. Đồng thời, tại bản tự khai anh H khẳng định không còn tình cảm với chị T và anh chị đã sống ly thân từ tháng 11/2018 đến nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh H thống nhất ly hôn với chị T.
Xét thấy chị T và anh H thuận tình ly hôn, tuy nhiên do các bên đều không có mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử không công nhận thuận tình ly hôn giữa chị T và anh H được. Xét tình cảm của chị T và anh H không còn, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị T và anh H khẳng định không có con chung nên không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 266; 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Thu T được ly hôn với anh Lê Thanh H.
2. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Thảo phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007929 ngày 28/8/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Chị T đã nộp xong. Anh H không phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm.
Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản bán được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Phú Quốc; - Chi cục THA dân sự huyện Phú Quốc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Ngọc Hồng |